Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC THỦY SẢN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC THỦY SẢN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

TLTS - Mỹ: Nuôi tôm bằng protein đơn bào

ProTyton, một nguyên liệu thức ăn protein đơn bào (SPC) đã được các nhà khoa học tại Mỹ và Canada chứng minh có khả năng nâng cao tỷ lệ sống, tăng trưởng và kháng bệnh cho tôm.

ProTyton được phát triển bởi White Dog Labs, là một SPC thức ăn thủy sản yếm khí chất lượng cao

ProTyton là một thành phần thức ăn đơn bào được nghiên cứu và phát triển bởi Công ty Công nghệ sinh học White Dog Labs (WDL) tại New Castle, Mỹ. Sản phẩm này đã được các nhà khoa học tại Trung tâm công nghệ NTTS (CATC) của Canada thử nghiệm trong nuôi tôm.

TS Dumas cho biết thêm, khi bổ sung ProTyton vào thức ăn tôm theo tỷ lệ 10% và 15%, lặp lại 1 lần ở mỗi nghiệm thức trong thử nghiệm sơ bộ suốt 4 tuần, tỷ lệ sống của tôm đã tăng lên hơn 80% so nghiệm thức đối chứng, còn trọng lượng của tôm tăng 50%. Một nghiên cứu khác đã chứng minh, bổ sung ProTyton vào nghiệm thức của CATC đã làm tỷ lệ chết ở tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương thấp hơn hẳn so nhóm tôm ở chế độ đối chứng thức ăn công nghiệp khi cả hai nhóm được thử thách với virus Vibrio parahaemolyticus.

Hiện, WDL đang sản xuất ProTyton bằng máy lên men 5.000 gallon tại cơ sở thí điểm Delaware. Bryan Tracy, Tổng Giám đốc điều hành WDL cho biết, vì sản xuất bằng công nghệ yếm khí nên ProTyton có khả năng giải quyết được các vấn đề chi phí và mở rộng quy mô của ngành tôm. Các công nghệ sản xuất protein đơn bào trên thị trường hiện nay phần lớn dựa trên công nghệ hiếu khí. Trước đây, những công nghệ này đều sử dụng ôxy và được thực hiện ở quy mô nhỏ hơn và phải sản xuất sản phẩm giá cao hơn vì chi phí tốn kém hơn.

Cách đây 18 tháng, WDL đã hợp tác với CATC để đánh giá độc lập ProTyton trên cá hồi. Kết quả ban đầu cho thấy, tổng chi phí thức ăn giảm trong khi duy trì tác dụng tiêu hóa axit amin cao. Nhóm nghiên cứu đã thay thế 1/2 bột cá trong khẩu phần ăn đối chứng (chứa 20% bột cá) bằng một lượng ProTyton nhỏ hơn để cân bằng hàm lượng protein thô và axit amin thiết yếu. Sau đó, nhóm đã quyết định thử nghiệm lợi ích của ProTyton với sức khỏe tôm post. Trong giai đoạn thứ 2 của thử nghiệm, CATC đã quay trở lại phòng thí nghiệm để kiểm tra hiệu quả của ProTyton lên tỷ lệ sống của tôm. Theo Dumas, tỷ lệ sống của tôm post ở khẩu phần ăn đối chứng là 47%, nhưng tăng lên trên 85% ở khẩu phần ăn bổ sung 10 và 15% ProTyton. Với kết quả khả quan này, CATC đã xúc tiến thêm bước đánh giá tác động của ProTyton lên miễn dịch của tôm trong một thử nghiệm thử thách AHPND và ăn theo khẩu phần ăn đa dạng suốt 3 tuần.

TS Mark Braceland, Giám đốc Quản lý sức khỏe thủy sản tại CATC cho biết: “Trong nghiên cứu sơ bộ, chúng tôi cho tôm ăn nhiều chế độ dinh dưỡng khác nhau. Tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương ở 2 chế độ ăn gồm không giàu hóa với 0% ProTyton và chế độ bổ sung ProTyton theo hàm lượng khác nhau được so sánh với tôm ở chế độ ăn đối chứng (thức ăn thương mại). Sau đó, tôm được thử thách với Vibrio parahaemolyticus. Nghiệm thức thức ăn bao gồm: Chế độ ăn thương mại được tối ưu hóa giúp tôm kháng bệnh, chế độ ăn tham khảo của CATC và 4 nghiệm thức với tỷ lệ bổ sung ProTyton lên tới 20% và tôm được theo dõi tỷ lệ sống suốt 1 tuần.

Theo Braceland: “Tôm được cho ăn bổ sung ProTyton có thể phát triển tốt hoặc tốt hơn tôm ăn thức ăn thương mại nhưng chắc chắn luôn tốt hơn tôm ăn thức ăn không được giàu hóa. Tỷ lệ chết ở chế độ ăn thương mại và CATC lần lượt là 33% và 55%. Ba trong bốn chế độ ăn bổ sung ProTyton giúp tôm phát triển tốt hơn chế độ ăn thương mại. Hiện, CATC đang lên kế hoạch mở rộng quy mô đánh giá ProTyton trong mô hình nuôi thực địa.

Tracy giải thích: “Những lợi ích sức khỏe ProTyton mang lại cho vật nuôi đều nhờ bản chất yếm khí. SCP yếm khí có thể chứa các chất chuyển hóa thứ cấp kích thích miễn dịch và nucleotide. ProTyton SCP còn chứa hàm lượng butyrate thấp, một acid béo chuỗi ngắn thường được sử dụng làm phụ gia thức ăn cho các loài nuôi trên cạn để hỗ trợ sức khỏe đường ruột và giảm sử dụng kháng sinh”. ProTyton không phải là phép màu nhưng tiềm năng của nó với sự phát triển ngành thủy sản thì không thể phủ nhận. Kết hợp ProTyton với đạm đậu nành cô đặc (SPC), gluten ngô sẽ tạo nên hỗn hợp thức ăn tối ưu vì tác dụng vượt trội hơn và tiết kiệm chi phí tốt hơn.

>> Theo TS Andre Dumas, Quản lý dinh dưỡng thủy sản tại CATC: “ProTyton không chỉ cung cấp dưỡng chất mà còn góp phần nâng cao sức khỏe và miễn dịch cho vật nuôi. Những phát hiện ban đầu đều cho thấy ProTyton là thành phần tuyệt vời trong thức ăn, giúp tôm tăng tỷ lệ sống, tăng trưởng và cải thiện sức khỏe”.
Đan Linh (Theo Aquaculturealliance)
Đọc tiếp »

TLTS - Cơ sở sản xuất tôm đầu tiên Việt Nam đáp ứng yêu cầu OIE

Trước thông tin lần đầu tiên Việt Nam có cơ sở SX tôm đáp ứng yêu cầu an toàn dịch bệnh theo khuyến cáo của Tổ chức Thú y thế giới (OIE), PV Báo NNVN đã trao đổi với Cục Thú y để hiểu rõ hơn quá trình xây dựng và công nhận cơ sở này.
Phòng thử nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005 và đã được chỉ định xét nghiệm bệnh trên tôm của Tập đoàn Việt Úc.

Trước thực trạng ngày càng có nhiều nước đưa ra các rào cản kỹ thuật yêu cầu tôm và các sản phẩm tôm phải xuất phát từ quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc ít nhất là cơ sở an toàn dịch bệnh theo quy định của OIE, trong khi Việt Nam là một trong những nước hàng đầu về XK tôm và các sản phẩm tôm. Do đó, việc chủ động xây dựng lộ trình cụ thể để tổ chức xây dựng các chuỗi SX tôm an toàn dịch bệnh là cần thiết và cấp bách.

Tháng 9/2016, Đoàn công tác của Bộ NN- PTNT Việt Nam đàm phán với Bộ Nông nghiệp Úc về các giải pháp, yêu cầu XK tôm nguyên con sang Úc.

Ở nhiều nước và ngay tại Đông Nam Á cũng chưa có nhiều cơ sở SX tôm đạt tiêu chuẩn an toàn dịch bệnh theo quy định của OIE. Chỉ duy nhất tại Indonesia có một vài cơ sở SX tôm giống được cơ quan thú y nước này xác nhận là cơ sở an toàn dịch bệnh. Ở các nước khác, chủ yếu là cơ sở SX các loài thủy sản khác (không phải tôm) được xác nhận là an toàn dịch bệnh.

Trên cơ sở đó, từ năm 2015, Cục Thú y đã tham mưu, báo cáo Bộ NN- PTNT có những chỉ đạo cụ thể và quyết liệt để UBND tỉnh Bạc Liêu, các cơ quan chuyên môn và Tập đoàn Việt Úc tổ chức nghiên cứu kỹ các quy định của OIE, cũng như yêu cầu của nước NK (điển hình là Úc, nơi có yêu cầu rất nghiêm ngặt về an ninh sinh học và an toàn dịch bệnh).

Cục Thú y đã tham mưu để Bộ NN- PTNT có cuộc làm việc với lãnh đạo OIE đề nghị hướng dẫn cụ thể và hỗ trợ chuyên gia hướng dẫn về cơ sở an toàn dịch bệnh theo quy định của OIE. Tư vấn để Bộ lập đoàn sang Úc trao đổi, đàm phán và ký biên bản thỏa thuận hợp tác, hỗ trợ xây dựng chuỗi SX tôm an toàn dịch bệnh theo quy định của OIE để XK tôm nguyên con sang Úc và các nước khác.

Hằng năm, bên lề hội nghị thường niên của OIE, lãnh đạo Cục Thú y có các cuộc họp với cơ quan thú y của các nước tại Pháp để trao đổi, cập nhật các thông tin yêu cầu về dịch. Đồng thời, Cục Thú y đã tổ chức nghiên cứu, dịch toàn bộ các quy định về an toàn dịch bệnh của OIE và các nước để có có sở hướng dẫn các tỉnh, TP và DN thực hiện.

Đồng thời, Cục Thú y đã có kế hoạch cụ thể với lộ trình rõ ràng để Bộ NN- PTNT, các cấp chính quyền, cơ quan thú y các cấp và DN tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch đề ra. Cục Thú y đã xây dựng, trình Bộ NN- PTNT ban hành, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tổng thể kế hoạch xây dựng chuỗi SX tôm an toàn dịch bệnh để XK.

Các nội dung chính của kế hoạch bao gồm: Tổ chức rà soát, đánh giá thực trạng SX tôm của tỉnh Bạc Liêu và của Tập đoàn Việt Úc, nhất là xác định chính xác những khó khăn, vướng mắc, tồn tại để đưa ra các giải pháp và lộ trình thực hiện; Tổ chức đào tạo, tập huấn hướng dẫn cán bộ kỹ thuật của các cơ quan chuyên môn địa phương, của DN và của người nuôi tôm xung quanh chuỗi SX tôm an toàn dịch bệnh của Tập đoàn Việt Úc; Thành lập các tổ công tác kỹ thuật với sự phân công trách nhiệm cụ thể để cùng phối hợp tổ chức thực hiện từng hạng mục của kế hoạch.

Cục trưởng Cục Thú y Phạm Văn Đông (trái) và Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó TGĐ Đặng Quốc Tuấn (phải) ký Biên bản hợp tác, hỗ trợ Tập đoàn Việt Úc xây dựng các cơ sở có chuỗi SX tôm an toàn dịch bệnh.

Hằng năm, Cục Thú y báo cáo Bộ NN- PTNT bố trí kinh phí tổ chức giám sát dịch bệnh chủ động và tổ chức phòng, chống dịch bệnh tập trung tại các vùng nuôi tôm của tỉnh Bạc Liêu. Cục Thú y và tỉnh cũng đã bố trí kinh phí tổ chức phòng, chống dịch bệnh và giám sát dịch bệnh tại vùng đệm xung quanh chuỗi SX tôm an toàn dịch bệnh; Tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, giám sát Tập đoàn Việt Úc từng bước xây dựng, đánh giá và công nhận từng hợp phần của chuỗi SX tôm an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn của OIE.

Một vấn đề nữa là phải quyết liệt trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát chặt chẽ việc tổ chức xây dựng từng hợp phần của chuỗi SX tôm nhằm đáp ứng yêu cầu an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn của OIE. Từ bản kế hoạch tổng thể, Cục Thú y đã hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra, giám sát thường xuyên và liên tục trong hơn 3 năm để Tập đoàn Việt Úc đã xây dựng thành công từng hạng mục quan trọng của một cơ sở an toàn dịch bệnh theo khuyến cáo của OIE.

Cụ thể, về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và công nghệ SX đáp ứng yêu cầu; vị trí cơ sở SX tôm giống ngăn cách về mặt địa lý với các nguồn ô nhiễm tiềm tàng; nhà xưởng, trang thiết bị, nguồn nước, thức ăn đạt yêu cầu, đặc biệt có hệ thống xử lý nước bảo đảm không còn vi sinh vật, giảm thiểu nguy cơ xâm nhiễm mầm bệnh vào cơ sở. Nguồn nhân lực với hơn 100 người tham gia vào các khâu quản lý, SX và nhân lực phòng thí nghiệm của Tập đoàn Việt Úc đã được đào tạo và cấp các chứng chỉ phù hợp.

Hình ảnh bên ngoài của cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn dịch bệnh theo khuyến cáo của OIE tại phường Nhà Mát, TP Bạc Liêu.

Xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp an toàn sinh ở tất cả các công đoạn, bao gồm xử lý tiêu diệt các loại mầm bệnh ở các ao, bể nuôi, nguồn nước cung cấp, nguồn nước thoát, trong thức ăn và trong suốt quá trình SX. Xây dựng và triển khai kế hoạch giám sát 5 loại bệnh, gồm các bệnh đốm trắng, đầu vàng, hội chứng Taura, vi bào tử trùng và hoại tử gan tụy cấp liên tục trong hơn 2 năm; lấy mẫu và xét nghiệm hàng trăm mẫu nhằm bảo đảm không phát hiện bệnh nào trong số 5 loại bệnh nêu trên ở bất kỳ khâu nào.

Cuối cùng là tổ chức thẩm định, đánh giá nghiêm ngặt theo từng tiêu chí về an toàn dịch bệnh theo khuyến cáo của OIE.

Trong khi thực hiện, các cơ quan chuyên môn của Cục Thú y, của tỉnh Bạc Liêu và kể cả mời các chuyên gia của Bộ Nông nghiệp Úc sang Việt Nam để thường xuyên theo dõi, thẩm định, đánh giá kết quả theo từng hợp phần và theo từng lộ trình thực hiện. Trên cơ sở đó, Cục Thú y đã hướng dẫn Tập đoàn Việt Úc xây dựng, khắc phục những nội dung chưa hoàn thiện nhằm bảo đảm đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về an toàn dịch bệnh theo khuyến cáo của OIE và của Úc.

Trong đó, Cục Thú y đã xây dựng và ban hành Bộ tiêu chí đánh giá gồm hơn 80 chỉ tiêu các loại để DN và các cơ quan làm căn cứ đánh giá, bao gồm: Tập đoàn Việt Úc tự đánh giá nội bộ dựa trên các tiêu chí rất cụ thể; các Tổ công tác của Cục Thú y và của tỉnh Bạc Liêu đánh giá, hướng dẫn khắc phục; cuối cùng, Cục Thú y thành lập đoàn thẩm định với sự tham gia của đại diện các cơ quan đánh giá chính thức toàn bộ chuỗi SX tôm của Tập đoàn Việt Úc.

Trong hơn 2 năm thực hiện, Cục Thú y cũng đã mời 02 đoàn chuyên gia của Bộ Nông nghiệp Úc sang nắm bắt tình hình, hướng dẫn và đưa ra những nhận xét cơ bản về chuyên môn kỹ thuật, nhằm giúp Tập đoàn Việt Úc xây dưng cơ sở SX tôm an toàn dịch bệnh.

Bộ Nông nghiệp Úc sang khảo sát, đánh giá chuỗi SX tôm an toàn dịch bệnh của Tập đoàn Việt Úc.

Sau hơn 2 năm (kể từ cuối năm 2015), Tập đoàn Việt Úc lần đâu tiên xây dựng thành công một cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn dịch bệnh theo khuyến cáo của OIE. Trên cơ sở hồ sơ đăng ký dày hàng nghìn trang, Cục Thú y đã tổ chức đánh giá nhiều lần và thẩm định kết quả.

Cuối cùng, ngày 05/10/2018, Cục trưởng Cục Thú y đã ban hành Quyết định số 660/QĐ-TY về việc xác nhận cơ sở SX tôm giống của Công ty CP Việt Úc - Bạc Liêu tại phường Nhà Mát, TP Bạc Lieu (Bạc Lieu) đáp ứng tiêu chí an toàn dịch bệnh theo khuyến cáo của OIE. Đây là sự kiện quan trọng, là bước ngoặt và thành công lớn cho ngành SX tôm Việt Nam vì lần đầu tiên và duy nhất hiện nay có một cơ sở đạt chuẩn như vậy.

Với những kết quả đạt được, Cục Thú y đã tham mưu, báo cáo Bộ NN- PTNT đề nghị Bộ Nông nghiệp Úc cử đoàn chuyên gia sang đánh giá chính thức để từng bước có cơ sở XK tôm nguyên con đông lạnh từ Việt Nam sang Úc. Từ đó, các lô hàng tôm sống nguyên con sẽ có nhiều cơ hội XK sang các thị trường, chất lượng và lợi nhuận thu được từ ngành tôm Việt Nam sẽ tăng cao trong tương lai.

Đặc biệt sẽ không còn nhiều lo lắng trước việc các nước đưa ra các rào cản kỹ thuật yêu cầu tôm và các sản phẩm tôm phải xuất phát từ quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc ít nhất là cơ sở an toàn dịch bệnh theo quy định của OIE.
Nguyễn Vũ 
NNVN

Đọc tiếp »

TLTS - Nông dân Nghệ An nuôi rùa sinh sản, thu hàng trăm triệu mỗi năm

Anh Phan Văn Lễ ở xóm Khang Thọ, xã Nam Cát, huyện Nam Đàn đã thành công trong mô hình nuôi rùa nước ngọt sinh sản, thu về hơn 100 triệu đồng mỗi năm.
Rùa giống được bán với giá 700.000 đồng/con. Ảnh: Thế Thắng

Nam Cát là xã đã về đích nông thôn mới của huyện Nam Đàn, trên địa bàn có nhiều mô hình phát triển kinh tế với cách làm hay, trong đó có mô hình nuôi rùa sinh sản đang cho hiệu quả của anh Phan Văn Lễ ở xóm Khang Thọ.

Nhận thấy giống rùa nước ngọt dễ nuôi, ổn định đầu ra, anh Phan Văn Lễ đã bỏ ra 150 triệu đồng mua 90 con giống rùa bố mẹ từ các trang trại ở Bắc Ninh, thành phố Hồ Chí Minh về nuôi và đã thành công.

Anh đã làm thủ tục xin giấy phép của cơ quan chức năng để đủ điều kiện nuôi rùa tại địa phương. Để nuôi rùa, anh tiến hành xây bể xi măng trong vườn nhà. Thức ăn của rùa chủ yếu là các loại gốc cây rau muống, bèo tây, cá và xác động vật…

Đặc biệt, rùa có thể chịu nhiệt và chịu đói tốt, chúng có thể nhịn ăn được cả tháng ở chế độ ngủ đông nên quá trình nuôi thêm phần thuận lợi.

Chú rùa lớn nhất của anh Lễ hiện đã đạt trọng lượng 13kg. Ảnh: Thế Thắng

Hiện nay tổng số đàn rùa lớn nhỏ là 400 con, trong đó có 100 con rùa bố mẹ phục vụ cho sinh sản. Rùa thường nuôi từ 5 năm mới cho sinh sản; rùa miền Bắc sinh sản vào mùa xuân, rùa miền Nam vào mùa thu.

Trung bình mỗi con rùa mẹ sinh sản và ấp nở được khoảng 8 - 10 rùa con mỗi năm. Đàn rùa của anh Lễ mỗi năm sinh sản được khoảng 200 con rùa con, sau 10 ngày tuổi, rùa được nhập cho thương lái với giá 700.000 đồng/con; ước tính mỗi năm anh thu về hơn 100 triệu đồng từ việc bán rùa giống.

Bể nuôi rùa nước ngọt của anh Phan Văn Lễ. Ảnh: Thế Thắng

Theo anh Lễ, giá rùa thương phẩm bán ra thị trường khá đắt, tuy nhiên hiện nay anh chủ yếu đang chăn nuôi rùa sinh sản và cung cấp con giống.

Nhu cầu về rùa ngày càng được thị trường ưa chuộng nên sắp tới anh mở rộng nuôi rùa thương phẩm đồng thời tiếp tục cung ứng giống cho bà con có nhu cầu nuôi.
Thế Thắng 
Báo Nghệ An
Đọc tiếp »

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

TLTS - Hệ gen của cá tra lần đầu tiên được giải mã

Lần đầu tiên các nhà khoa học đã giải mã hoàn toàn bộ hệ gen của cá tra, điều này mở đường cho việc nhân giống loài cá có giá trị kinh tế này tốt hơn.

Ảnh: sciencedaily

Cá tra - Pangasianodon hypophthalmus là một loài cá điển hình của sông Mekong huyền thoại, con sông dài nhất ở Đông Nam Á và là một trong nhưng con sông lớn nhất trên thế giới. Việt Nam là nước sản xuất hàng đầu của loài cá này, sản lượng cá tra nuôi ước tính 1,1 triệu tấn cá trong một năm.

Nhưng không giống như các loài cá thương mại khác, chẳng hạn như cá tuyết Đại Tây Dương thì loài cá tra – một loài cá da trơn Châu Á – lại có ít dữ liệu về hệ gen để hướng dẫn nuôi và sản xuất giống.

Hiện nay, các nhà khoa học tại Viện Khoa học và Công nghệ Đại học Okinawa (OIST) đã hợp tác với các nhà nghiên cứu tại Học viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam để giải mã toàn bộ hệ gen của cá tra. Kết quả của họ, được công bố vào ngày 5 tháng 10 năm 2018, trong BMC Genomics, tiết lộ chi tiết mới về dòng dõi tiến hóa của các loài cá và các gen có thể là chìa khóa cho sự phát triển bền vững.

“Với dữ liệu di truyền này, sẽ dễ dàng kiểm tra sự đa dạng hóa hiện diện trong quần thể cá da trơn”, Eiichi Shoguchi, trưởng nhóm nghiên cứu về hệ gen biển tại OIST và đồng tác giả đầu tiên của nghiên cứu cho biết. “Trong nuôi trồng thủy sản, ví dụ, một cá thể của cá tra sẽ có con có khả năng chống lại mầm bệnh tốt hơn cá khác trong đàn. Từ dữ liệu di truyền đã được biết có thể kiểm tra bộ gen của con cá đó và tìm hiểu xem gen nào liên quan đến tính kháng bệnh”.

Sử dụng các kỹ thuật sắp xếp thế hệ tiếp theo, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu di truyền và lắp ráp nó thành một bộ gen hoàn chỉnh. Họ so sánh bộ gen mới với dữ liệu di truyền đã được công bố trước đó từ cá da trơn và cá vằn - một sinh vật kiểu mẫu liên quan chặt chẽ với tiến hóa của cá da trơn.

Các nhà khoa học đã tìm thấy sự khác biệt rõ rệt giữa cá tra và người anh em họ của nó là cá nheo Mỹ, và sự khác biệt hơn nữa giữa nó và loài cá vằn.

Đặc biệt, họ xác định sự biến mất của hai gen trong cá tra vẫn còn nguyên vẹn trong cá vằn và cho phép các loài cá này có khả năng chống tia UV của riêng mình.

Thức ăn cho cá da trơn ở dưới đáy sông, vượt ra ngoài sự ảnh hưởng của tia UV, và có thể cá tra không cần sự bảo vệ này. Cá tra có nhiều gen yếu tố tăng trưởng giống insulin hơn cá vằn, đây có thể là chìa khóa cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của loài này.

Sử dụng dữ liệu từ cá tra trên sông, các nhà khoa học đã tạo một bản đồ giả thuyết về nhiễm sắc thể cá tra. Bản đồ chỉ ra cách nghiên cứu trong tương lai so sánh các loài, truy tìm dòng dõi của chúng và điều tra chức năng các gen này trên cá. Điều này mở ra tương lai mới cho cá tra trong di truyền và chọn lọc giống.

Okinawa Institute of Science and Technology (OIST) Graduate University
LỆ THỦY Lược Dịch
Tepbac

Đọc tiếp »

TLTS - Vai trò mới của Monocalcium Phosphate đối với cá

Một nghiên cứu gần đây của A. Chen, X. Bu và cộng sự 2018 cho thấy Monocalcium Phosphate khi cân đối liều lượng chính xác đã góp phần giúp người nuôi cung cấp Ca và P cho cá một cách hữu hiệu. Qua đó góp phần giảm thiểu việc lãng phí nguồn nguyên liệu P trong chăn nuôi và thủy sản.

Monocalcium Phosphate - nguyên liệu giúp cá hấp thụ tốt Phosphor

Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành xương. Trong xương cá Ca chiếm tỉ lệ cao. Ở vảy cá rô phi hàm lượng Ca cũng chiếm đến 19 – 21%. Hàm lượng Ca trong một số loài cá giảm khi sinh sản và thức ăn thiếu Ca. Ngoài vai trò cấu trúc cơ bản của xương, Ca còn tham gia vào quá trình đông máu, co cơ, dẫn truyền thông tin thần kinh, duy trì áp suất thẩm thấu.

Tương tự như Ca, P thường tồn tại ở dạng kết hợp với hợp chất khác trong mô xương cá. Hàm lượng P trong bộ xương cá chiếm khoảng 15% và 0.2 – 0.8% trong cơ thịt cá. P có vai trò trong quá trình biến dưỡng các chất dinh dưỡng trong cơ thể. P là chất cấu thành hợp chất năng lượng Adenosine triphosphate (ATP), Phospholipid, AND, ARN và một số coenzyme. Vì vậy P tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng, điều khiển sinh sản, sinh trưởng…Phosphor tham gia vào việc duy trì ổn định pH trong cơ thể động vật thủy sản.


MCP (Monocalcium Phosphate) có dạng bột màu trắng, dễ dàng tan trong hydrochloric, axit nitric, có nguồn gốc tổng hợp từ các hợp chất hóa học gốc muối phốt phát. MCP dùng trong ngành chăn nuôi, thú y, thủy sản, phân bón… có hàm lượng: Phốt pho P 22% min, Canxi Ca 13-18%. Việc sử dụng P hữu hiệu để cá có thể thể hấp thu đối với cá là hết sức khó khăn. Vì thế các nhà khoa học đã có một nghiên cứu nhằm xác định hàm lượng tối ưu của hợp chất MCP (Monocalcium Phosphate) khi bổ sung vào thức ăn để cá sử dụng P một cách hiệu quả nhất.

Phương pháp sản xuất MCP trong công nghiệp:

Sử dụng axit photphoric, fluorapatite được chuyển thành Ca (H2PO4)2:

Ca5(PO4)3F + 7 H3PO4 → 5 Ca(H2PO4)2 + HF
 
Vai trò tối ưu của MCP đối với cá da trơn

Hai thí nghiệm đã được tiến hành để xác định mức độ tối ưu của phosphor có sẵn trong chế độ ăn có chứa Monocalcium phosphate cho cá da trơn Ussuri (Pseudobagrus ussuriensis).

Thí nghiệm 1 được tiến hành để ước tính khả năng tiêu hóa phosphor từ monocalcium phosphate cho cá da trơn Ussuri. Hệ số tiêu hóa rõ ràng của phosphor từ monocalcium phosphate là 86,3%.

Thí nghiệm 2, ba nhóm cá nhám Ussuri được cho ăn khẩu phần có hàm lượng Monocalcium phosphate khác nhau tương ứng với các nghiệm thức (MCP: 0 g/kg, 8,2 g/kg, 16,4 g/kg, 24,6 g/kg, 32,8 g/kg và 41,0 g/kg) trong 8 tuần.

Kết quả phân tích cho thấy cá được cho ăn khẩu phần có chứa 16,4 g/kg MCP cho thấy tốc độ tăng trọng là tốt nhất (171,5%), tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (1,08) và tỷ lệ hiệu quả protein củng rất được cải thiện (2,06). Đồng thời các nhà khoa học còn nhận thấy không sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ sống của cá trong các nghiệm thức.

Kết quả tốt nhất về hiệu quả giữ phosphor (46,10%) được quan sát thấy trong nhóm cá cho ăn khẩu phần chứa 8,2 g / kg MCP với lượng P sẵn có là 3,0 g/kg, không khác biệt (p> 0,05) so với khẩu phần ăn có chứa tới 24,6 g/kg MCP, và hàm lượng phosphor ở đốt sống cá cao nhất (58,2 g/kg) đã được quan sát thấy trong nhóm cá cho ăn khẩu phần chứa 24,6 g / kg MCP với P có sẵn là 6,6 g / kg.

Lipid tổng số và protein của cơ thể, cũng như hàm lượng phosphor, bị ảnh hưởng đáng kể bởi phosphor có sẵn trong chế độ ăn (p <0,05). Phân tích hồi quy bậc hai dựa trên tốc độ tăng trưởng cụ thể (SGR) so với mức phosphor có sẵn trong chế độ ăn chỉ ra rằng nhu cầu P có sẵn tối ưu cho cá da trơn Ussuri tối thiểu là 5,9 g/kg và phân tích hàm lượng phosphor trong đốt sống dựa vào khẩu phần ăn sẵn có chỉ ra rằng một mức độ ăn 6,0 g/kg phosphor sẽ cung cấp cho đốt sống một cách tối ưu.

Kết luận

Do việc sử dụng P trong thức ăn của cá là rất khó hấp thu và khó có thể đạt được mức độ sử dụng một các tối ưu nên đã có nhiều các nghiên cứu nhằm nâng cao việc tiêu hóa P trong động vật thủy sản. Nghiên cứu trên đây đã đưa ra một nguồn nguyên liệu rất rẻ và hết sức phổ biến, xác định hàm lượng chính xác giúp cho cơ thể cá hấp thu sử dụng P một các hiệu quả nhất. Giúp cho người nuôi sử dụng phụ gia này vào quá trình sản xuất mà không phải đắn đo về liều lượng như trước đây. Qua đó góp phần giảm giá thành sản xuất giúp nâng cao hiệu quả kinh tế của người nuôi cá.


TRỊ THỦY Lược dịch
Tepbac
Đọc tiếp »

TLTS - Chống lão hóa từ... phế phẩm tôm

Có tác dụng hạn chế lão hóa mạnh mẽ nhờ khả năng chống oxy hóa mạnh gấp 500 lần Vitamin E và hạn chế hiệu quả quá trình lão hóa, astaxanthin được coi là một hợp chất sinh học quý. Mới đây, nhóm sinh viên Công nghệ thực phẩm trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH) đã tìm ra phương pháp chiết xuất hợp chất này từ phế phẩm đầu tôm, mở ra triển vọng mới trong việc khai thác astaxanthin. 
Nhóm nghiên cứu 

Đây là công trình đạt giải Nhất giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học (NCKH) cấp Bộ năm 2018 vừa qua. Chủ nhân công trình là các sinh viên Nguyễn Đăng Khôi, Huỳnh Hoa Nhi, Hồ Thị Kim Thu, Nguyễn Ngọc Linh và Nguyễn Ngọc Thảo My; trong đó, trừ Hoa Nhi và Kim Thu học năm thứ 4, ba thành viên còn lại đều mới học năm 2 ngành Công nghệ thực phẩm HUTECH.


Nhóm sinh viên HUTECH đạt giải Nhất giải thưởng Sinh viên NCKH cấp Bộ năm 2018.
Tận dụng phế phẩm đầu tôm, hiệu quả kinh tế vượt trội

Với ngành nuôi tôm và chế biến thủy hải sản ở nước ta hiện nay, xử lý các phế phẩm sao cho hiệu quả - vừa tận dụng hết khả năng, vừa bảo vệ được môi trường - đang là một “bài toán khó”. Đó cũng là điểm khởi đầu cho nghiên cứu của nhóm sinh viên HUTECH. Trưởng nhóm Nguyễn Đăng Khôi chia sẻ: “Trong quá trình chế biến, phế phẩm đầu tôm thải ra rất nhiều và thường chỉ được dùng làm thức ăn gia súc. Nhưng trong thành phần của đầu tôm có nhiều protein, ngoài ra còn một thành phần khác có giá trị sinh học và giá trị kinh tế cao hơn nhiều là astaxanthin. Nghề nuôi tôm ở nước ta rất phát triển, nên nếu tận dụng được phế phẩm đầu tôm thu bột đạm thì sẽ có nguồn bột đạm giàu astaxanthin rất dồi dào, vừa đem lại lợi ích kinh tế cao, vừa góp phần bảo vệ môi trường”.

Đăng Khôi cho biết, ý tưởng thu bột đạm từ phế phẩm đầu tôm không phải là mới nhưng phương pháp phổ biến hiện nay vẫn là dùng dầu (dầu thực vật, dầu hướng dương,...). Cách làm này khá tốn kém, đồng thời độ hòa tan thấp nên bột đạm thu được thường quá nhiều dầu, khó dùng cho người. Ngược lại, thủy phân với enzyme cho ra sản phẩm tốt hơn nhưng hiệu suất không cao.

Đây chính là thách thức lớn khiến nhóm sinh viên HUTECH phải mày mò tìm kiếm, thử nghiệm rất nhiều lần. Cuối cùng, sau thời gian mày mò nghiên cứu, các bạn phát hiện ra là bên cạnh enzyme protease thì kết hợp với lipase sẽ cho hiệu quả cao vượt trội: sản phẩm thu được nhiều hơn gần gấp ba lần so với dùng protease riêng lẻ. Ngoài ra, theo đánh giá cảm quan, bột đạm thu được từ phương pháp này có cấu trúc mịn hơi xốp, màu đỏ cam sáng, thơm mùi thịt tôm khi nấu chín và có vị ngọt nhẹ dễ chịu. Đây cũng là ưu điểm nổi bật giúp bột đạm thu được dễ dàng sử dụng cho con người.
Báo Dân Trí
Đọc tiếp »

TLTS - Philippine: Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho cá

Các nhà nghiên cứu ở Philippines đang cung cấp cho nông dân nuôi cá những lựa chọn mới để giảm chi phí thức ăn mà không làm giảm hiệu suất nuôi cá. 
Phụ phẩm từ dừa là nguyên liệu dồi dào và giá rẻ. Ảnh: Internet 

Tại Khoa Thủy sản và Đại dương của Đại học Philippines - Visayas, Ritche Declarador và nhóm của cô đã cải thiện giá trị làm thức ăn của cơm dừa để nó thích hợp sử dụng như là một phần thay thế cho đậu tương trong chế độ ăn của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và cá măng sữa (Chanos chanos).


Thực tế cho thấy rằng Philippines là nước sản xuất dầu dừa lớn nhất thế giới, do đó có rất nhiều bột dừa (copra meal). Copra meal hay còn gọi là bột dừa, cám dừa là một phụ phẩm phổ biến trong sản xuất dầu dừa. Tuy nhiên, giá trị sử dụng làm thức ăn của bột dừa còn thấp do hàm lượng protein thấp, chất xơ cao, bề ngoài gồ gề và kết cấu thô.

Một công nghệ đột phá đã được phát triển, trong đó sử dụng quá trình lên men trạng thái rắn và sử dụng một loại nấm trong thực phẩm để tăng cường protein của nguyên liệu thức ăn thủy sản tiềm năng này. Quá trình này đã làm giàu protein cơm dừa từ 12% đến 45%, tương đương với bột đậu nành.

Ritche S. Declarador và cộng sự 2018 đã tiến hành thí nghiệm để để đánh giá tiềm năng của cám dừa giàu protein (PECM) như là một phần thay thế đậu nành trong chế độ ăn của tôm thẻ chân trắng và cá măng sữa.

Một thử nghiệm tăng trưởng trong phòng thí nghiệm được tiến hành bằng cách sử dụng ấu trùng tôm thẻ chân trắng P. vannamei và ấu trùng cá măng sữa.

Thử nghiệm: Đánh giá tăng trưởng trong phòng thí nghiệm 60 ngày được tiến hành bằng cách sử dụng 30 ấu trùng tôm thẻ P. vannamei có trọng lượng 0,03 ± 0,003 g, và trong lượng ấu trùng cá măng sữa là 0,04g được thả ngẫu nhiên trong một bể chứa nước 50L được trang bị sục khí trong một hệ tuần hoàn khép kín. Tôm và cá được cho ăn với chế độ ăn có chứa các mức PECM khác nhau; Chế độ ăn uống 1 (kiểm soát) 0%, chế độ ăn 2 chứa 25%, chế độ ăn 3 chứa 50% và chế độ ăn 4 chứa 75% thay thế đậu nành. Sau đó, hàm lượng bổ sung cám dừa giàu protein tốt nhất đã được thử nghiệm so sánh với nhóm sử dụng thức ăn tôm và cá măng sữa có sẵn trên thị trường trong hệ thống nuôi lớn.

Kết quả cho thấy sự bao gồm bột dừa giàu protein PECM không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm/cá ở tất cả các hàm lượng bổ sung trong chế độ ăn và cũng không có sự khác biệt đáng kể về trọng lượng cơ thể trung bình cuối cùng khi sử dụng thức ăn từ bột dừa cho cả hai loài.

Những gợi ý rằng PECM có thể thay thế 50% của bột đậu nành, có thể làm giảm sự phụ thuộc trong bữa ăn đậu nành và giúp nông dân giảm chi phí thức ăn.

Vỏ trái cây làm thức ăn cho cá rô phi

Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) / cục Nuôi trồng thủy sản trước đó cũng đã chứng minh rằng vỏ trái cây có thể được sử dụng làm phụ gia cho thức ăn cá rô phi.

Ảnh: Unsplash

“Kết quả sơ bộ cho thấy tỷ lệ phần trăm tăng trọng của cá rô phi cho ăn khẩu phần có chứa bột cam quýt, bột đậu bắp và vỏ dứa, vỏ xoài có thể so sánh với những nhóm cá cho ăn chế độ ăn dựa vào bột cá", theo bản tin của cơ quan này.

Vỏ xoài, đặc biệt, đã được trích dẫn cho hàm lượng đường cao làm cho nó ngon miệng và được coi là thức ăn giàu năng lượng.

Những báo cáo trên cho thấy khả năng tận dụng nguồn phụ phẩm từ nông nghiệp sử dụng làm thức ăn cho nuôi trồng thủy sản là hoàn toàn có khả thi. Với Philippine và nước ta là một nước nông nghiệp với sự phong phú của sản phẩm nông nghiệp thì việc biết cách tận dụng phụ phẩm từ ngành này không chỉ mang lại lợi ích cho nông dân mà còn góp phần tăng giá trị cho sản phẩm nông sản. 

VĂN THÁI (Lược dịch)
Tepbac
Đọc tiếp »

TLTS - Sinh vật lạ: RÙA CÁ SẤU

Loài rùa được mệnh danh quái thú cổ đại với hàm răng cực chắc có thể cắn gãy xương người.
Loài rùa hung dữ được biết đến với tên gọi rùa cá sấu

Rùa cá sấu

Có một điều mà từ người lớn đến trẻ nhỏ cũng biết là mai rùa cực kỳ rắn chắc. Nhiều lúc chính chiếc mai đã giúp cho những chú rùa tránh thoát khỏi sự tấn công của kẻ thù, thậm chí là sự tấn công của sát thủ đầm lầy cá sấu, dưới những chiếc răng nhọn hoắt mà chiếc mai vẫn giữ cho chú rùa được bình yên vô sự.

Những chiếc mai cứng rắn là thế, vậy bạn hãy thử nghĩ xem nếu như những chiếc mai rùa được trang bị thêm những chiếc gai thì sẽ ra sao? Chắc chắn những chiếc mai không những càng thêm kiên cố vững chãi mà còn có thể phản đòn gây đau đớn cho kẻ thù nữa.

Và xin giới thiệu với các bạn, có một loài rùa đã được mẹ thiên nhiên ưu ái trao tặng cho bộ giáp sắt nhọn, chính là loài rùa cá sấu, hay còn gọi là rùa gai, rùa răng cưa.
Rùa cá sấu phân bố ở vùng Bắc Mỹ, thường xuất hiện ở các vùng nước miền Nam Hoa Kỳ. Đây là một loại rùa hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng. Do nhiều nguyên nhân mà rùa cá sấu được du nhập vào châu Á và châu Âu, chủ yếu về nghiên cứu và buôn bán vật nuôi mang về lợi nhuận cao.

Đặc điểm của rùa cá sấu


Như đã nói trên, rùa cá sấu có mai với ba hàng gai mọc tua tủa những chiếc gai nhọn cực kỳ chắc chắn, được coi là vũ khí bảo vệ chúng khi còn nhỏ khỏi nguy hiểm luôn rình rập xung quanh, hơn thế nữa, mai rùa còn là hình thức nguỵ trang do màu sắc nâu và hình dạng khiến mai rùa trông giống như một chiếc lá khô hạn chế khả năng chạm mặt với hiểm nguy. Dưới bộ giáp của rùa cá sấu chứa rất nhiều dây thần kinh nhạy cảm.

Ngoài ra, đầu của rùa cá sấu to, bộ hàm cực khoẻ có thể cắn gãy xương người. Cùng với vẻ hung dữ, chúng quả thật xứng với tên gọi - rùa cá sấu. Chính điều này mà chúng còn có biệt danh là "quái thú rùa", gợi nhắc cho ta đến tổ tiên khủng long huy hoàng của chúng ngày nào.
Có báo cáo chưa được kiểm chứng về con rùa nặng 183 kg ở Kansas năm 1937, nhưng một trong những mẫu vật lớn nhất có kiểm chứng gây tranh cãi. Ở bể sinh vật cảnh Shedd Chicago là một con rùa 16 năm tuổi cân nặng 113 kg, được gửi đến bể cá cảnh bang Tennessee. Một con khác cân nặng 107 kg tại sở thú Brookfield ở ngoại ô Chicago. Chúng thường không phát triển đến kích thước lớn, trung bình con trưởng thành có mai dài khoảng 40,4 đến 80,8 cm với khối lượng 68 đến 80 kg. Rùa đực thường lớn hơn rùa cái.

Sinh sản và vòng đời

Độ tuổi thành thục của rùa cá sấu khoảng 12 tuổi. Ở thời điểm đầu năm, các cô rùa chú rùa sẽ bước vào giai đoạn giao phối, các chú rùa cô rùa sẽ đi tìm nửa kia của bản thân. Các cô rùa sau một thời gian dài sau đó sẽ tiến hành xây tổ và đẻ khoảng 10-50 trứng.

Thêm một điều thú vị nữa là giới tính con non sẽ phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, cụ thể trứng rùa ở nhiệt độ dưới 28 độ C sẽ nở thành con đực và trên 32 độ C sẽ nở thành con cái (nhiệt độ ở khoảng giữa có lẽ là 50/50), điều này phụ thuộc vào hormon, nhiệt độ, ánh sáng,... quy định.
Thời gian ấp trứng khoảng 100-140 ngày, trứng nở vào đầu mùa thu sẽ xuất hiện những bé rùa "dễ thương", rùa con sau khi chui ra từ trong trứng sẽ bò trở lại biển (do rùa có tập tính thường hay đẻ trứng trên bờ gần biển).

Tuổi thọ của cá thể tự nhiên còn là ẩn số, rùa cá sấu được cho là sống tới 200 năm, nhưng từ 80 tới 120 năm thì có lẽ đúng hơn. Chúng thường sống từ 20 tới 70 năm khi rùa cá sấu sống trong môi trường nuôi nhốt.

Tình hình hiện nay

Rùa cá sấu sinh sống chủ yếu ở Đông Nam Á. Như đã nói trên, hiện nay rùa cá sấu có nguy cơ bị tuyệt chủng, số lượng rùa cá sấu ngoài tự nhiên đang dần hạn chế vì thường xuyên bị bắt làm thịt buôn bán trái phép và bị hạn chế về môi trường sống. 
alasinhvatla
Đọc tiếp »

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

TLTS - Nuôi rươi nhàn hạ thu lãi nửa tỷ đồng mỗi năm

Ở bãi thoi thị trấn Minh Tân, tỉnh Hải Dương, người dân đang phất lên nhờ nuôi rươi, lãi từ trên 150 - 500 triệu đồng/năm.

Tháng 9 - 10 Âm lịch hàng năm là mua thu hoạch rươi của khu vực bãi thoi thị trấn Minh Tân, huyện Kinh Môn. Nhiều năm qua, rươi đã trở thành con đặc sản, làm giàu cho người dân nơi đây.

Là món ăn bổ dưỡng nên dù giá cao, rươi vẫn được khách hàng ưa chuộng, nhất là đối với những người sành ăn. Ở Minh Tân, rươi bắt được bao nhiêu đều được thương lái thu mua đi Quảng Ninh, Hải Phòng bán hết.

Giá rươi luôn ở mức cao, dao động từ 350.000 - 550.000 đồng/kg. Những năm mất mùa, rươi khan hiếm, giá vọt lên 800.000 đồng/kg. Nhà nuôi ít thì lãi trên 150 triệu đồng, nhà nào nuôi nhiều mức lãi lên đến 500 triệu đồng mỗi năm.

Người nuôi phấn khởi sau mỗi mùa rươi bội thu.

Anh Vũ Văn Thu ở khu dân cư Tử Lạc có tiếng nuôi rươi ngon nhất vùng dự đoán: “Mấy ngày nay theo dõi kỹ con nước, thấy có hiện tượng chuyển màu đục, lại trở trời nên nhất định sẽ có rất nhiều rươi”.

Đúng như lời anh Thu, chừng nửa tiếng sau, rươi từ dưới đầm dần dần nổi lên, kín cả mặt nước. Đợi rươi lên nhiều, anh Thu giăng sẵn lưới và bắt đầu mở cửa cống. Nước trong đầm rươi theo máng chảy ra sông. Rươi cũng lũ lượt theo con nước đổ về lưới.

Khi lưới nặng, anh Thu nhấc lưới thu hoạch mẻ đầu tiên. Liên tục như vậy đến hơn 3 giờ chiều thì việc thu rươi hoàn tất với sản lượng đạt gần 50kg. Các thương lái đã chờ sẵn trên bờ để thu mua với giá 420.000 đồng/kg. Chỉ với mẻ rươi nước đầu đã mang về cho anh Thu trên 20 triệu đồng.

Năm 1992, anh Thu và một số hộ dân khu Tử Lạc ra bãi thoi này đào ao thả cá, cấy lúa, trồng màu. Nhận thấy những ưu đãi về khí hậu, thổ nhưỡng đất đai và con nước, 7 năm trở lại đây, anh Thu và người dân vùng bãi đã khai thác và phát triển nghề nuôi rươi cho hiệu quả kinh tế cao.

Không phải là gia đình có diện tích rộng nhất nhưng anh Thu lại là người có nhiều kinh nghiệm nhất trong việc nuôi rươi ở vùng này. Với 4.600m2 đất bãi, anh đầu tư kinh phí xây mương dẫn nước, lắp cửa cống và cải tạo đất, sử dụng mùn hữu cơ bón lót dưới đầm để khai thác rươi. Sản lượng rươi của gia đình thu hoạch bình quân mỗi năm đạt 3,5 – 4 tạ rươi, hiệu quả kinh tế gần 200 triệu đồng.

Những hộ nuôi rươi trên diện tích rộng hơn, lúc được mùa, lãi ước tính không dưới 500 triệu đồng/năm. Các hộ nuôi rươi ở đây khẳng định, không nuôi con gì nhàn bằng rươi, trong khi lợi nhuận kinh tế rất lớn.

Rươi có quanh năm, nhưng thường chín rộ từ tháng 9 đến tháng 11 âm lịch. Mỗi tháng cho thu hoạch 2 - 3 lần, mỗi lần liên tục trong 2 - 3 ngày. Hết mùa rươi, người dân lại cấy lúa, thả cá, nuôi cáy tăng thêm thu nhập.

Ông Trần Khắc Quyền, Chủ tịch UBND thị trấn Minh Tân cho biết, khu bãi thoi có 11 hộ nuôi rươi với diện tích 10,2ha. Nhà ít thì vài sào, nhiều lên đến gần 3ha. Sản lượng rươi mỗi năm đạt gần 6 tấn, giá trị kinh tế trên 2,5 tỷ đồng.

Để phát triển nghề nuôi rươi, địa phương đã phối hợp với cơ quan chuyên môn tập huấn kỹ thuật cho người dân. Đến nay, khu bãi thoi đã được huyện đầu tư kinh phí hơn 2 tỷ đồng làm đường giao thông nội vùng. Sắp tới huyện sẽ đầu tư xây dựng một số hạng mục để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất./.

Theo Thu Xuân/Báo Nông nghiệp VN
Đọc tiếp »

TLTS - Sinh vật lạ: Cá chào mào gai

Loài cá chào mào gai cực kỳ quý hiếm sống dưới đáy biển sâu. Ngoài hình dạng độc đáo, khoác trên mình lớp áo giáp sáng bóng, đẹp mắt trông như sinh vật thời tiền sử, cá chào mào gai còn có thể đi bộ dưới đáy biển.
Cá chào mào gai có thể di chuyển dưới đáy biển bằng vây

Loài cá có ngoại hình độc đáo cực kỳ quý hiếm

Với ngoại hình độc đáo siêu dị biệt, sinh vật cực kỳ quý hiếm nửa giống cá nửa giống tôm này sở dĩ được đặt tên là cá chào mào gai chính là do bề ngoài của chúng trông giống như một loài giáp xác mang trên mình lớp vỏ dày và cứng. Ngoài ra chúng còn có tên gọi cá chào mào bọc thép hay cá chào mào áo giáp.


Cá chào mào gai có tên khoa học Satyrichthys rieffeli. Chúng phân bố chủ yếu tại biển Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia và Australia. Loài cá cực kỳ quý hiếm này rất ít được tìm thấy, chúng chỉ có thể tìm thấy ở những vùng đáy biển sâu.

Cá chào mào gai cùng dáng vẻ độc lạ

Cá chào mào gai có kích thước lên đến 28 cm.


Nhìn từ xa, cá chào mào gai có hình dạng như chiếc tàu chiến không khỏi thu hút ánh nhìn của người xem, như đã nói trên, chúng được bao bọc trong lớp vảy trơn cùng những chiếc gai nhọn càng làm tăng thêm dáng vẻ uy vũ, mạnh mẽ của cá chào mào gai. Hầu hết mọi bộ phận trên cơ thể cá chào mào gai đều được bảo vệ chặt chẽ, ngay cả phần đầu cũng được bao bọc bởi tấm xương vững chãi, khiến cho hình tượng chiến binh của biển cả càng lộ rõ ra trên mắt người xem.
Không như những loài cá thông thường mà ta thường thấy, cá chào mào gai còn có điểm nổi bật khác. Chúng có "bàn chân" để đi lại dưới đáy biển, đó là những chiếc vây dày cứng nằm trên cơ thể.
Thêm một điều nữa chính là cá chào mào gai không như những loài cá sống dưới đáy biển sâu thường có màu sắc u tối, cá chào mào gai lại có màu đỏ cam trông vô cùng bắt mắt nổi bật.
Ngoài ra, cá chào mào gai có mõm hẹp bằng và kéo dài về phía trước hình thành hai thuỳ nhọn. Cằm của chúng có hai đôi râu phân nhánh như lông chim. Phần thân được phủ bằng tám hàng vảy mỗi bên bốn hàng chia làm hai, có dạng chiếc xương nhỏ, bên cạnh đó, mỗi chiếc vảy còn mang chiếc gai nhỏ dẹt. Cá chào mào gai không có răng trên cả hai hàm. Mắt nhỏ.

Quả thật những đặc điểm mô tả cá chào mào gai trông giống một con tôm hơn là cá.


Mức độ quý hiếm của cá chào mào gai

Cá chào mào gai sống ở vùng biển nhiệt đới ấm áp dọc theo thềm cạnh, dốc lục địa, khu vực đảo. Mặc dù không có giá trị kinh tế nhưng cá chào mào gai vẫn rất được săn đón nhờ vào hình dạng độc đáo và cấu tạo khá đặc biệt.
Do các hoạt động sinh sống và kiếm ăn của cá chào mào gai đều ở tầng đáy đại dương. Thậm chí ở tầng nước sâu 200 m cũng hiếm khi chúng xuất hiện. Cũng có số cực ít trường hợp ngoại lệ, trong số đó có một con được phát hiện bởi các ngư dân ở địa điểm gần ranh giới trên biển giữa Darwin, thủ phủ bang Northern Territory của Australia và Indonesia tại vùng biển sâu 30m.
Tại Việt Nam, cá được tìm thấy ở các vùng biển Bình Định, Quy Nhơn, Khánh Hoà, Bình Thuận. Hiện các nhà khoa học vẫn chưa xác định được số lượng cá chào mào gai ở vùng biển Việt Nam.
Hiện nay, cá chào mào gai đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam, nghiêm cấm đánh bắt, mua bán. Nếu có bắt được (trong lưới giã cào, lưới vây) thì hãy thả ngay khi chúng còn sống. 
alalasinhvatla
Đọc tiếp »

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

TLTS - Tại sao có nhiều cá hồi nuôi bị mất thị lực vào mùa hè

Các nhà khoa học tại NIFES (Viện Nghiên cứu Dinh dưỡng và Hải sản Quốc gia Na Uy) đã phát hiện thêm về mối liên hệ giữa nhiệt độ nước biển và tình trạng mù ở cá hồi.

Ảnh minh họa (Nguồn: NIFES)

Thủy tinh thể là một hình cầu nhỏ được làm từ protein trong suốt, không khác gì lòng trắng của trứng. Khi các protein bị phá hủy, thủy tinh thể chuyển sang màu trắng và không còn trong suốt nữa.

Vào mùa hè, cá hồi nuôi thường mất thị lực do bị đục thủy tinh thể, làm mắt của chúng không còn trong suốt nữa. Điều này xảy ra khi nhiệt độ tăng lên, nhưng chính xác là tại sao thì người ta vẫn chưa biết. Hiện các nhà khoa học tại NIFES đã phát hiện thêm về mối liên hệ giữa nhiệt độ nước biển và tình trạng mù ở cá hồi.

Bệnh đục thủy tinh thể là một chứng rối loạn của mắt, có thể ảnh hưởng đến cả cá lẫn con người. Thủy tinh thể của mắt dần dần trở nên mờ đục cho đến khi không còn trong suốt nữa. Đây là một vấn đề phúc lợi động vật nghiêm trọng đối với cá hồi nuôi.

Sofie Remø, một nhà khoa học ở NIFES nói: “Đây là những tổn thương vĩnh viễn đối với thủy tinh thể. Kịch bản xấu nhất đó là thị lực yếu đến nỗi cá không thể thấy thức ăn, không ăn và ngừng tăng trưởng”.

Không thích nước ấm

Do nhiệt độ nước biển cao hơn trong suốt mùa hè nên nguy cơ cá bị mù cũng cao hơn. Nhà khoa học của NIFES nói rằng: “Do cá hồi là loài máu lạnh nên nhiệt độ cơ thể bằng với nhiệt độ của môi trường nước. Nhiệt độ thích hợp đối với cá hồi Đại Tây Dương là khoảng 13oC. Nếu nhiệt độ nóng hơn, cá hồi sẽ hoạt động không tốt cũng như bị nguy cơ cao hơn đối với bệnh đục thủy tinh thể”.

Trong tự nhiên, cá hồi hoang dã có thể di chuyển đến những vùng nước sâu hơn và lạnh hơn khi nhiệt độ tăng, nhưng trong lồng nuôi ở biển thì không thể. Những mùa hè vừa rồi đã có thời kỳ nhiệt độ nước biển cao, và Remø nói rằng nhiều người nuôi cá đã liên hệ với NIFES với các câu hỏi về bệnh đục thủy tinh thể trong những khoảng thời gian đó.

“Mùa hè là mùa của bệnh đục thủy tinh thể. Vì chúng ta đang đối mặt với sự biến đổi khí hậu, nhiệt độ đại dương sẽ trở nên ấm hơn, nên điều quan trọng là phải biết được những gì xảy ra với cá khi nhiệt độ tăng lên để chúng ta có thể bảo vệ sức khoẻ và phúc lợi của chúng”.

Ảnh hưởng của lòng trắng trứng

Trong một nghiên cứu đã được xuất bản gần đây, các nhà khoa học đã thấy rằng có nhiều thay đổi xảy ra ở bên trong thủy tinh thể khi nhiệt độ của nước tăng lên. Một thay đổi quan trọng đó là thủy tinh thể hết khả năng chống oxy hóa. Các chất chống oxy hóa bảo vệ thủy tinh thể khỏi bị tổn thương, và khi chúng không đủ thì các protein sẽ bị phá hủy, dẫn đến hình thành các đốm trắng ở bên trong thủy tinh thể. Điều này được gọi là stress do mất cân bằng oxy hóa (oxidative stress).

“Thủy tinh thể là một quả cầu nhỏ làm bằng protein trong suốt. Nó gần giống như lòng trắng của trứng, cũng gồm protein trong suốt. Khi trứng được nấu chín, các protein bị phá hủy và biến thành màu trắng. Điều tương tự xảy ra trong mắt của cá hồi khi các protein bị phá hủy, và làm cho chúng không còn trong suốt nữa”, Remø nói.

Tương tự như bệnh tiểu đường

Cùng lúc đó, thủy tinh thể của cá thay đổi tương tự như những thay đổi ở những người mắc bệnh đục thủy tinh thể do bệnh tiểu đường. Lượng đường trong máu của cá hồi sống ở trong nước ấm nhất đã tăng, điều này đã gây ra hậu quả đối với mắt.

“Khi lượng đường máu gia tăng, có một sự quá tải về đường ở trong thủy tinh thể, và chúng ta thấy có một sự tích lũy dẫn xuất rượu của đường (sugar alcohol). Điều này dẫn đến những vấn đề về cân bằng nước trong thủy tinh thể”, Remø nói.

Nhiệt độ ảnh hưởng đến cân bằng nước

Thủy tinh thể phải có lượng nước thích hợp để duy trì độ trong suốt. Nếu nó bị phồng lên hoặc khô đi thì có thể gây tổn thương tế bào và dẫn đến hình thành bệnh đục thủy tinh thể. Các nhà khoa học gọi là stress có liên quan đến áp suất thẩm thấu (osmotic stress).

Các nhà khoa học nhận thấy rằng thủy tinh thể của cá hồi sống trong nước ấm nhất có khả năng thấp hơn để điều chỉnh cân bằng này. Điều này là do chúng có ít các osmolyte hơn, mà các osmolyte này có chức năng là chuyển nước ra khỏi tế bào.

Histidine bảo vệ khỏi bệnh đục thủy tinh thể


Hai mươi năm qua, bệnh đục thủy tinh thể là một vấn đề chủ yếu trong nuôi trồng thủy sản. Trước đấy, các phụ phẩm động vật như bột máu đã được sử dụng trong thức ăn của các loài thủy sản, nhưng vào những năm 1990 thì bị ngừng do nguy cơ truyền nhiễm bệnh bò điên. Không có bột máu, cùng với bột cá trong thức ăn ít hơn nên cá hồi nuôi đã mất đi một nguồn cung cấp histidine quan trọng.

Histidine là một acid amin thiết yếu, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng các khối protein. Ngoài ra, acid amin này có thể hoạt động như một chất chống oxy hoá và osmolyte. Điều này có nghĩa là histidine có thể bảo vệ tế bào khỏi stress do mất cân bằng oxy hóa và giúp duy trì cân bằng nước trong thủy tinh thể. Đó là lý do tại sao histidine có thể chống lại sự phát triển của bệnh đục thủy tinh thể.

Mong muốn bảo vệ để chống lại những biến đổi của môi trường

Thức ăn phải đáp ứng tất cả các nhu cầu về histidine của cá hồi. Tuy nhiên, không phải tất cả các nguyên liệu thô dùng làm thức ăn đều có chứa đủ histidine, và do đó trong thực tế người ta thường thêm histidine tổng hợp vào thức ăn. Trước đây, các nhà khoa học tại NIFES đã biết rằng cá hồi Đại Tây Dương cần gần gấp hai lần histidin để giảm thiểu bệnh đục thủy tinh thể so với nhu cầu histidine để duy trì tăng trưởng. Điều này đặc biệt quan trọng ngay sau khi cá hồi giống (smolt) được chuyển tới các lồng nuôi ngoài biển và khi nhiệt độ tăng lên. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đủ để ngăn ngừa bệnh đục thủy tinh thể.

Remø cho biết: “Chúng tôi đã nhận diện được những nguyên nhân cơ bản về tại sao cá hồi dễ bị bệnh đục thủy tinh thể hơn vào mùa hè. Điều này sẽ hình thành nền tảng cho những nghiên cứu xa hơn nhằm gia tăng sức khỏe của cá khi phải đối mặt với những biến đổi của môi trường”.

Anh Chi (Theo NIFES)

Đọc tiếp »