Hiển thị các bài đăng có nhãn KỸ THUẬT NUÔI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KỸ THUẬT NUÔI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

TLTS - Nông dân Nghệ An nuôi rùa sinh sản, thu hàng trăm triệu mỗi năm

Anh Phan Văn Lễ ở xóm Khang Thọ, xã Nam Cát, huyện Nam Đàn đã thành công trong mô hình nuôi rùa nước ngọt sinh sản, thu về hơn 100 triệu đồng mỗi năm.
Rùa giống được bán với giá 700.000 đồng/con. Ảnh: Thế Thắng

Nam Cát là xã đã về đích nông thôn mới của huyện Nam Đàn, trên địa bàn có nhiều mô hình phát triển kinh tế với cách làm hay, trong đó có mô hình nuôi rùa sinh sản đang cho hiệu quả của anh Phan Văn Lễ ở xóm Khang Thọ.

Nhận thấy giống rùa nước ngọt dễ nuôi, ổn định đầu ra, anh Phan Văn Lễ đã bỏ ra 150 triệu đồng mua 90 con giống rùa bố mẹ từ các trang trại ở Bắc Ninh, thành phố Hồ Chí Minh về nuôi và đã thành công.

Anh đã làm thủ tục xin giấy phép của cơ quan chức năng để đủ điều kiện nuôi rùa tại địa phương. Để nuôi rùa, anh tiến hành xây bể xi măng trong vườn nhà. Thức ăn của rùa chủ yếu là các loại gốc cây rau muống, bèo tây, cá và xác động vật…

Đặc biệt, rùa có thể chịu nhiệt và chịu đói tốt, chúng có thể nhịn ăn được cả tháng ở chế độ ngủ đông nên quá trình nuôi thêm phần thuận lợi.

Chú rùa lớn nhất của anh Lễ hiện đã đạt trọng lượng 13kg. Ảnh: Thế Thắng

Hiện nay tổng số đàn rùa lớn nhỏ là 400 con, trong đó có 100 con rùa bố mẹ phục vụ cho sinh sản. Rùa thường nuôi từ 5 năm mới cho sinh sản; rùa miền Bắc sinh sản vào mùa xuân, rùa miền Nam vào mùa thu.

Trung bình mỗi con rùa mẹ sinh sản và ấp nở được khoảng 8 - 10 rùa con mỗi năm. Đàn rùa của anh Lễ mỗi năm sinh sản được khoảng 200 con rùa con, sau 10 ngày tuổi, rùa được nhập cho thương lái với giá 700.000 đồng/con; ước tính mỗi năm anh thu về hơn 100 triệu đồng từ việc bán rùa giống.

Bể nuôi rùa nước ngọt của anh Phan Văn Lễ. Ảnh: Thế Thắng

Theo anh Lễ, giá rùa thương phẩm bán ra thị trường khá đắt, tuy nhiên hiện nay anh chủ yếu đang chăn nuôi rùa sinh sản và cung cấp con giống.

Nhu cầu về rùa ngày càng được thị trường ưa chuộng nên sắp tới anh mở rộng nuôi rùa thương phẩm đồng thời tiếp tục cung ứng giống cho bà con có nhu cầu nuôi.
Thế Thắng 
Báo Nghệ An
Đọc tiếp »

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH SINH SẢN NHÂN TẠO GIỐNG HÀU CỬA SÔNG VÀ HÀU THÁI BÌNH DƯƠNG

Việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống để đáp ứng nuôi thương phẩm, đồng thời tiếp tục phát triển giống hàu địa phương và tìm kiếm đối tượng sản xuất mới nhằm đa dạng hóa đối tượng sản xuất giống tại Ninh Thuận là vấn đề cấp thiết được đặt ra.
1. Mở đầu      
Tại Ninh Thuận, trong những năm qua một số hộ dân khu vực đầm Nại cũng đã nuôi thương phẩm hàu và đạt một số kết quả đáng kể. Nghề nuôi hàu phát triển không những góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi theo chủ trương định hướng chung của ngành mà còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ổn định hệ sinh thái, giúp cho nghề nuôi trồng thủy sản phát triển theo hướng bền vững, góp phần chuyển đổi đối tượng sản xuất tại các khu vực nuôi tôm khó khăn, tạo việc làm và tăng thu nhập cho bà con nuôi thủy sản ven đầm Nại.
Tuy nhiên, một trong những khó khăn lớn của nghề nuôi hàu hiện nay tại Ninh Thuận là chưa có quy trình kỹ thuật nuôi hoàn chỉnh, con giống từ sinh sản nhân tạo chưa nhiều; bởi, quy trình sinh sản giống hàu nhân tạo chưa được ổn định, nên giống nuôi thương phẩm chủ yếu phụ thuộc vào nguồn khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống để đáp ứng nuôi thương phẩm, đồng thời tiếp tục phát triển giống hàu địa phương và tìm kiếm đối tượng sản xuất mới nhằm đa dạng hóa đối tượng sản xuất giống tại Ninh Thuận là vấn đề cấp thiết được đặt ra. 
nghiên cứu quy trình sinh sản nhân tạo giống hàu cửa sông và hàu thái bình dương

2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng
 Hàu cửa sông (Crassostrea rivularis) và hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas)
2.2. Phương pháp bố trí thử nghiệm
Triển khai 2 đợt sinh sản thử nghiệm và đợt sinh sản thứ 3 để hoàn thiện quy trình.    
- Quy mô sinh sản thử nghiệm cho mỗi đợt/đối tượng: 100 con hàu mẹ, số lượng ấu trùng đưa vào bố trí thí nghiệm là 30 triệu con. Mật độ ương ấu trùng chữ D là 10 con/ml; ương ấu trùng bám là 5 con/ml và ương lên giống cấp 1 là 1 con/ml.
- Xác định một số chỉ tiêu môi trường pH, nhiệt độ, ôxy hòa tan, độ mặn và xác định các chỉ tiêu tỷ lệ sống, thời gian chuyển giai đoạn ấu trùng. So sánh kết quả ương nuôi của 2 đối tượng qua mỗi đợt thử nghiệm, đánh giá kết quả ứng dụng quy trình trong mỗi đợt thử nghiệm và đề xuất quy trình hoàn thiện.

3. Kết quả
3.1. Kết quả thử nghiệm
3.1.1. Kết quả nuôi vỗ và ấp nở
Trong mỗi đợt sản xuất thử nghiệm, chọn mua 100 con hàu mẹ mỗi loại. Qua quá trình chọn lựa để nuôi vỗ, cho đẻ và ấp nở nhận thấy: hàu mẹ Thái Bình Dương chọn mua có trọng lượng trung bình 80 - 100 g/con và hàu cửa sông có trọng lượng 100 - 120 g/con. Để thuận lợi cho việc bố trí thử nghiệm, trong mỗi đợt thử nghiệm chỉ chọn mỗi loài hàu là 20 con để cho đẻ.
3.1.2. Thức ăn, chế độ cho ăn và chăm sóc quản lý ấu trùng
Thức ăn cho ấu trùng là hỗn hợp các loài vi tảo: Nanochloropsis occulata, Chatoceros mullerri, Isochrysis galbana. Cho ăn 4 lần/ngày, vào lúc 7h, 11h, 15h và 18h.
Giai đoạn ấu trùng chữ D chủ yếu ăn tảo Nanochloropsis occulata. Giai đoạn ấu trùng đỉnh vỏ kết hợp 2 loài tảo, Nanochloropsis occulata và Chatoceros mullerri. Giai đoạn ấu trùng bám kết hợp 2 loài tảo Chatoceros mullerrivà Isochrysis galbana. Lượng tảo được duy trì trong nước với mật độ 150.000 - 300.000 tế bào/ml.
Qua 3 đợt nghiên cứu sản xuất thử nghiệm và hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo giống hàu cửa sông và hàu Thái Bình Dương, số lượng hàu giống cấp 1 đạt được là: 450.000 con, vượt chỉ tiêu đề tài là 12,5%. Trong đó, hàu cửa sông là 201.000 con và hàu Thái Bình Dương 249.000 con.
kết quả theo dõi các yếu tố môi trường sinh sản nhân tạo giống hàu cửa sông

Kết luận và đề xuất
Trong sinh sản nhân tạo giống hàu cửa sông và hàu Thái Bình Dương, với cùng một chế độ quản lý, chăm sóc, sử dụng thức ăn và chế độ cho ăn thì thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng hàu Thái Bình Dương ngắn hơn hàu cửa sông; Tỷ lệ sống của ấu trùng đỉnh vỏ so với ấu trùng chữ D, của ấu trùng bám so với ấu trùng đỉnh vỏ và của giống cấp 1 ở hàu Thái Bình Dương cao hơn hàu cửa sông.
tỷ lệ sống của ấu trùng và giống hàu cấp 1
Để hoàn thành, cần được đào tạo chuyển giao quy trình công nghệ đã nghiên cứu cho người nuôi trong và ngoài tỉnh. Đồng thời, cần nghiên cứu về mật độ ương nuôi các giai đoạn ấu trùng của hàu Thái Bình Dương, nhằm nâng cao hơn nữa tỷ lệ sống của giống hàu cấp 1.
Nguồn: thuysanvietnam
Đọc tiếp »

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

TLTS - Quy trình kỹ thuật nuôi hải sâm cát trong ao

Kết quả hình ảnh cho hải sâm cát

Hải sâm cát có cơ thể giống như quả dưa chuột, trung bình dài 20cm, da sần sùi, hơi nhám và mềm nhũn. Đầu trước có lỗ miệng, vành xúc tu, và đầu sau có hậu môn. Chúng không có mắt, có 5-10 xúc tu để bắt mồi, xúc tu giữa có nhiệm vụ như xúc giác; chỉ có một tuyến sinh dục là một chùm ống dài nằm cạnh màng treo ruột. Phần lớn phân tính, trứng và tinh trùng cùng ở một tuyến sinh dục, nhưng hình thành ở những thời gian khác nhau. Chúng có khả năng sinh sản vô tính theo kiểu chia cắt cơ thể, rồi tái sinh lại phần thiếu hụt.

Hiện nay, hải sâm cát là đối tượng có giá trị kinh tế khá cao. Giá thu mua hải sâm khô ổn định ở mức trên 100 đến 200 USD/kg khô. Hiện nay, nhu cầu thị trường trong nước còn chưa đáp ứng nổi, trong khi thị trường xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore… cũng đang rất cần loại hải sâm cát này. Vì vậy, đây là mô hình cần được nhân rộng trong thời gian tới nhằm giúp người xóa đói giảm nghèo.

Để nuôi hải sâm cát, bà con cần biết một số đặc điểm sinh học của loài này. Hải sâm cát có tập tính sống đáy, sử dụng mùn bã hữu cơ và vi sinh vật làm thức ăn nên được coi là một đối tượng có khả năng làm thay đổi hệ sinh vật đáy. Một đặc điểm nữa ở hải sâm giúp chúng tồn tại ngoài tự nhiên là khi bị tấn công là chúng sẽ tự vứt bỏ toàn bộ ruột của mình. Và trong khi kẻ tấn công thưởng thức phần ruột đó thì chúng vùi mình xuống cát hoặc lẩn tránh đi nơi khác. Và chỉ vài tháng sau đó, chúng sẽ tự tái sinh toàn bộ hệ tiêu hóa của mình. Đây được coi là một khả năng kì diệu của loài hải sâm cát.

Sau đây là quy trình nuôi hải sâm cát do kỹ sư thủy sản Nguyễn Đình Quang Duy, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III- chuyên gia đầu ngành của Việt Nam và thế giới về hải sâm cát hướng dẫn.


I. Nhân giống hải sâm

1. Nuôi hải sâm bố mẹ


- Hải sâm cát bố mẹ: khỏe mạnh, không trầy xước, không bị bệnh. Chúng được đánh bắt từ tự nhiên hoặc chọn lọc từ các ao nuôi thương phẩm. Kích cỡ tốt nhất nên lớn hơn 250 gam.

- Sau khi tuyển chọn và vận chuyển về trại, hải sâm được nuôi giữ trong ao hoặc trong đăng có điều kiện thích hợp để nuôi vỗ.

- Trong quá trình nuôi, thường xuyên vệ sinh đăng cho nước thông thoáng còn đối với nuôi ao thì quản lý môi trường ổn định, thay nước thường xuyên đảm bảo hải sâm phát triển bình thường.

2. Kích thích sinh sản và thu trứng

Do phân biệt cá thể đực và cái khó khăn nên mỗi đợt sinh sản cần chọn 30-40 con để kích thích cho đẻ. Rửa sạch hải sâm trước khi chuyển vào đẻ. Sục khí 24/24 giờ. Sau khi kích thích vài giờ, con đực phóng tinh, sau 20 - 30 phút con cái đẻ trứng. Quá trình phóng tinh và đẻ trứng khoảng một vài giờ. Sau đó, cấp thêm nước mới vào bể đẻ để làm loãng mật độ trứng. Dùng ống siphong hút trứng thụ tinh cách đáy 1-2 cm, không hút trứng chìm dưới đáy bể.

3. Ương nuôi ấu trùng

- Trứng sạch được chuyển vào bể ấp với mật độ từ 1 – 2,5 trứng/ml.

- Sau khoảng 36-40 giờ, trứng nở thành ấu trùng. Ấu trùng được chuyển vào bể ương, thức ăn của ấu trùng giai đoạn này là các loại tảo đơn. Sau 30 - 45 ngày ấu trùng thể đạt kích thước 1 - 2mm, có thể chuyển ra ương giống.

II. Nuôi hải sâm thương phẩm

Hiện nay, nuôi hải sâm cát trong ao là hình thức nuôi phổ biến, đã được các chuyên gia Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III triển khai ở nhiều địa phương.

1. Chuẩn bị ao nuôi:

Vị trí ao nuôi: Ao nuôi càng nhiều dinh dưỡng thì hải sâm càng mau lớn.Vì vậy, ao nuôi phải được thay nước thường xuyên, vừa để tránh ô nhiễm, vừa cung cấp thức ăn cho hải sâm nên bà con chọn ao có vị trí gần biển, dễ thay nước theo thủy triều và có độ mặn ổn định.

Diện tích ao nuôi: Ao nuôi có diện tích khoảng 5.000m2- 10.000m2.

Điều kiện môi trường:


- Độ mặn: Dao động từ 25 - 30‰.

- PH: Dao động từ 7,5 - 8,5.

- Nhiệt độ nước: Từ 26 - 290C.

- Độ sâu mực nước ao: 1,2m.

- Đáy ao: Bùn cát.

Cải tạo ao:

- Do hải sâm cát di chuyển chậm nên để tránh bị địch hại tấn công, bà con cần diệt tạp, các loại địch hại trước khi thả giống. Ngoài ra, khi cải tạo ao nuôi hải sâm cát, bà con lưu ý nên bón thêm vôi để bổ sung thêm canxi và diệt tạp trong ao. Liều lượng bón vôi khoảng 200kg/ha.

- Thức ăn của hải sâm cát là chất mùn bã hữu cơ có trong đáy ao nên khi cải tạo ao, bà con lưu ý không nên cải tạo ao quá sạch vì như vậy sẽ làm mất đi lượng thức ăn của hải sâm.

- Sau khi bón vôi diệt tạp, phơi khô ao khoảng 3,4 ngày thì bà con có thể thả nuôi hải sâm. Trên ao bố trí các giàn đập để cung cấp thêm oxy cho hải sâm cát. Bà con chú ý, khi làm cống lấy nước thì nên có hệ thống lưới chắn để ngăn rác và địch hại vào trong ao.

2. Thả giống:

Chọn giống: Con giống sạch bệnh, màu sắc tươi sáng. Hải sâm cát giống thường có màu nâu hoặc màu đen.Hải sâm giống nên mua ở những trung tâm sản xuất giống uy tín, kích cỡ giống từ 2- 20 g/con.

Vận chuyển con giống: Bà con tính quãng đường đi để chọn phương pháp vận chuyện phù hợp.

- Nếu phải đưa con giống đến nơi xa khoảng 100km trở lên thì bà con nên vận chuyển bằng túi nilong có oxy.

- Còn nếu ao nuôi ở gần cơ sở sản xuất giống thì bà con dùng phương pháp vận chuyển hở. Dùng thùng xốp có chọc lỗ nhỏ, bắt hải sâm giống vào thùng. Những lỗ nhỏ trên thùng xốp có tác dụng thoát nước vì khi bắt hải sâm giống sẽ mang theo nước vào thùng. Bà con chú ý tránh không để nắng chiếu trực tiếp vào hải sâm giống.

Kỹ thuật thả giống: Khi thả hải sâm giống, để chống sốc cho hải sâm giống, bà con cần cân bằng nhiệt độ và độ mặn trong thùng giống với môi trường ao. Bà con nên ngâm thùng giống xuống ao, chờ khi con giống hoạt động linh hoạt thì tiến hành thả giống. Bà con nên thả cách xa bờ để tránh hải sâm bị xây xát. Mật độ thả từ 1 đến 2 con/m2.

Thời gian thả giống: Thích hợp nhất là sáng sớm hoặc chiều tối để đảm bảo trời mát, nhiệt độ phù hợp, không bị sốc nhiệt hoặc độ mặn.

- Ngoài ra lưu ý nếu bà con có ao nuôi hải sâm cát nằm trong vùng có độ mặn thấp vào mùa mưa thì nên thả giống có kích cỡ lớn để thời gian nuôi rút ngắn lại. Còn với những ao nuôi ổn định về nhiệt độ, độ mặn thì có thể thả con giống quanh năm và chọn con giống kích cỡ nhỏ hơn để giảm chi phí đầu vào.

3. Quản lý chăm sóc:

- Thay đổi nước thường xuyên: Quá trình thay nước này sẽ bổ sung oxy và tăng cường dinh dưỡng, mùn bã hữu cơ từ tự nhiên vào ao. Điều đó cũng giúp hải sâm cát giảm nguy cơ nhiễm bệnh.

- Dọn bắt các sinh vật lạ: Đối với hải sâm nhỏ, mới thả nuôi, sức đề kháng yếu, không có khả năng phòng thủ và tốc độc lẩn trốn chậm nên bà con cần chú ý thường xuyên kiểm tra ao để vớt dọn rong rêu, tránh để ao bị yếm khí và bắt các loài địch hại như ốc, cua, tôm..

- Kiểm tra độ mặn: Cần đảm bảo độ mặn ổn định bằng cách đo độ mặn hằng ngày.

Đặc biệt vào mùa mưa. Khi trời mưa thì nước mưa sẽ làm độ mặn bị phân tầng và giảm độ mặn phía trên, làm nóng phần đáy do phần trên sẽ làm một cái thấu kính chiếu xuống đáy. Sau khi trời nắng lại sẽ làm nền đáy nóng kết hợp với việc yếm khí sẽ làm cho hải sâm chết rất nhanh. Để hạn chế, nà con có thể xử lý bằng cách tắt hết các quạt đảo nước trong ao, xả nước tầng mặt sau đó cấp nước lại.

- Kiểm tra thường xuyên tốc độ lớn của hải sâm cát: Ao nuôi càng nhiều dinh dưỡng thì hải sâm càng mau lớn. Thời gian nuôi thường là từ 8 – 10 tháng. Nếu hải sâm cát phát triển chậm lại do lượng mùn bã hữu cơ trong ao không đủ thì bà con có thể bổ sung thêm thức ăn có nguồn gốc hữu cơ cho hải sâm.

- Phòng bệnh: Hải sâm ít mắc bệnh. Tuy niên, nếu nước ở trong ao ít được thay, ao bị yếm khí sẽ gây một số bệnh trên hải sâm như bệnh lở loét. Để khắc phục tình trạng này, bà con cần thay nước mới cho ao, bật quạt đảo nước để cung cấp thêm oxy, khắc phục tình trạng yếm khí ở tầng đáy.

- Khuyến cáo: Hiện nay, một số đề tài khoa học đang nghiên cứu để tiến hành nuôi kết hợp hải sâm cát với tôm sú. Tuy nhiên kết quả chưa được công bố. Vì vậy, các chuyên gia khuyến cáo, bà con nên nuôi đơn hải sâm cát trong ao hoặc luân canh tôm sú và hải sâm để giảm chi phí sản xuất.

Phương Loan

Đọc tiếp »

TLTS - Sinh vật lạ: RÙA CÁ SẤU

Loài rùa được mệnh danh quái thú cổ đại với hàm răng cực chắc có thể cắn gãy xương người.
Loài rùa hung dữ được biết đến với tên gọi rùa cá sấu

Rùa cá sấu

Có một điều mà từ người lớn đến trẻ nhỏ cũng biết là mai rùa cực kỳ rắn chắc. Nhiều lúc chính chiếc mai đã giúp cho những chú rùa tránh thoát khỏi sự tấn công của kẻ thù, thậm chí là sự tấn công của sát thủ đầm lầy cá sấu, dưới những chiếc răng nhọn hoắt mà chiếc mai vẫn giữ cho chú rùa được bình yên vô sự.

Những chiếc mai cứng rắn là thế, vậy bạn hãy thử nghĩ xem nếu như những chiếc mai rùa được trang bị thêm những chiếc gai thì sẽ ra sao? Chắc chắn những chiếc mai không những càng thêm kiên cố vững chãi mà còn có thể phản đòn gây đau đớn cho kẻ thù nữa.

Và xin giới thiệu với các bạn, có một loài rùa đã được mẹ thiên nhiên ưu ái trao tặng cho bộ giáp sắt nhọn, chính là loài rùa cá sấu, hay còn gọi là rùa gai, rùa răng cưa.
Rùa cá sấu phân bố ở vùng Bắc Mỹ, thường xuất hiện ở các vùng nước miền Nam Hoa Kỳ. Đây là một loại rùa hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng. Do nhiều nguyên nhân mà rùa cá sấu được du nhập vào châu Á và châu Âu, chủ yếu về nghiên cứu và buôn bán vật nuôi mang về lợi nhuận cao.

Đặc điểm của rùa cá sấu


Như đã nói trên, rùa cá sấu có mai với ba hàng gai mọc tua tủa những chiếc gai nhọn cực kỳ chắc chắn, được coi là vũ khí bảo vệ chúng khi còn nhỏ khỏi nguy hiểm luôn rình rập xung quanh, hơn thế nữa, mai rùa còn là hình thức nguỵ trang do màu sắc nâu và hình dạng khiến mai rùa trông giống như một chiếc lá khô hạn chế khả năng chạm mặt với hiểm nguy. Dưới bộ giáp của rùa cá sấu chứa rất nhiều dây thần kinh nhạy cảm.

Ngoài ra, đầu của rùa cá sấu to, bộ hàm cực khoẻ có thể cắn gãy xương người. Cùng với vẻ hung dữ, chúng quả thật xứng với tên gọi - rùa cá sấu. Chính điều này mà chúng còn có biệt danh là "quái thú rùa", gợi nhắc cho ta đến tổ tiên khủng long huy hoàng của chúng ngày nào.
Có báo cáo chưa được kiểm chứng về con rùa nặng 183 kg ở Kansas năm 1937, nhưng một trong những mẫu vật lớn nhất có kiểm chứng gây tranh cãi. Ở bể sinh vật cảnh Shedd Chicago là một con rùa 16 năm tuổi cân nặng 113 kg, được gửi đến bể cá cảnh bang Tennessee. Một con khác cân nặng 107 kg tại sở thú Brookfield ở ngoại ô Chicago. Chúng thường không phát triển đến kích thước lớn, trung bình con trưởng thành có mai dài khoảng 40,4 đến 80,8 cm với khối lượng 68 đến 80 kg. Rùa đực thường lớn hơn rùa cái.

Sinh sản và vòng đời

Độ tuổi thành thục của rùa cá sấu khoảng 12 tuổi. Ở thời điểm đầu năm, các cô rùa chú rùa sẽ bước vào giai đoạn giao phối, các chú rùa cô rùa sẽ đi tìm nửa kia của bản thân. Các cô rùa sau một thời gian dài sau đó sẽ tiến hành xây tổ và đẻ khoảng 10-50 trứng.

Thêm một điều thú vị nữa là giới tính con non sẽ phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, cụ thể trứng rùa ở nhiệt độ dưới 28 độ C sẽ nở thành con đực và trên 32 độ C sẽ nở thành con cái (nhiệt độ ở khoảng giữa có lẽ là 50/50), điều này phụ thuộc vào hormon, nhiệt độ, ánh sáng,... quy định.
Thời gian ấp trứng khoảng 100-140 ngày, trứng nở vào đầu mùa thu sẽ xuất hiện những bé rùa "dễ thương", rùa con sau khi chui ra từ trong trứng sẽ bò trở lại biển (do rùa có tập tính thường hay đẻ trứng trên bờ gần biển).

Tuổi thọ của cá thể tự nhiên còn là ẩn số, rùa cá sấu được cho là sống tới 200 năm, nhưng từ 80 tới 120 năm thì có lẽ đúng hơn. Chúng thường sống từ 20 tới 70 năm khi rùa cá sấu sống trong môi trường nuôi nhốt.

Tình hình hiện nay

Rùa cá sấu sinh sống chủ yếu ở Đông Nam Á. Như đã nói trên, hiện nay rùa cá sấu có nguy cơ bị tuyệt chủng, số lượng rùa cá sấu ngoài tự nhiên đang dần hạn chế vì thường xuyên bị bắt làm thịt buôn bán trái phép và bị hạn chế về môi trường sống. 
alasinhvatla
Đọc tiếp »

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

TLTS - Kỹ thuật nuôi rươi đạt năng suất cao

Rươi không còn là cái tên xa lạ đối với người Tứ Kỳ và Hải Phòng. Nuôi rươi là nghề chủ đạo của người dân nơi đây và tạo ra thu nhập ‘khủng’. Hãy cùng tìm hiểu kỹ thuật nuôi rươi từ A đến Z để mang lại hiệu quả cao nhất nhé!

Chọn môi trường nuôi rươi

Đầm nuôi rươi là bãi triều hoặc ruộng lúa, nhưng nơi có nước thủy triều ra vào và độ mặn 0 – 10%.

Nơi nuôi rươi phải có diện tích tối thiểu 500m2, xung quanh phải có bờ bao chắc chắn và cao hơn mực nước trong đầm khoảng 30 – 50cm.

Đầm nuôi rươi nên cách xa nguồn thải của dân cư, khu vực nuôi rươi không bị ô nhiễm nguồn nước hay không khí.

Đáy đầm thì phải là bùn cát, trong đó chiếm 2 phần và cát là 1 phần. Ngoài ra, hàm lượng ôxy tối thiểu là4mg/l; độ pH từ 6,5 đến 8,5.

Cải tạo đầm nuôi

Cải tạo đầm nuôi là yếu tố quyết định đến năng suất nuôi rươi. Cải tạo đầm thường rơi vào tháng 3 và 9 dương lịch và tránh nước đục trong đầm chảy ra mang theo mùn bã hữu cơ.

Yêu cầu khi cải tạo đầm:
Tháo cạn đầm, loại bỏ hết địch hại của rươi như cua, cáy, cá, tôm…
Đầm cải tạo bằng phẳng, dốc về phía cống, dễ dàng cho việc róc nước
Xung quanh đầm phải sạch, không có cỏ dại mang mầm bệnh
Xây dựng hệ thống cống cấp và thoát nước
Kiểm tra pH của đầm, nếu pH <6 có thể bón thêm vôi nông nghiệp
Tạo sinh cảnh: có thể trồng một số loại cỏ thân mềm hoặc lúa để tạo sinh cảnh cho rươi, giảm nhiệt độ nước trong ngày nắng. 
 
Kỹ thuật lấy giống tự nhiên

Đây là khâu then chốt trong cách nuôi rươi, nó quyết định năng suất nuôi rươi.

Thời điểm lấy giống: vào kỳ nước thủy triều khoảng tháng 4 – 5 và tháng 9 – 12 âm lịch.

Cách thực hiện: Mở cống để nước chảy vào đầm, ấu trùng rươi sẽ theo nước và chui xuống lớp bùn trong đầm. Sau khi thủy triều rút khoảng 4 – 6 giờ, ta mới mở cống cho nước ra và luôn giữ lại mực nước trong đầm là 30 – 40cm. 
 
Chăm sóc rươi và quản lý đầm

Sau khi lấy giống 1 tháng, dùng vợt lưới dày vớt một lớp bùn trên bề mặt đầm, ta sẽ nhìn thấy những con rươi nhỏ màu đỏ, mật độ lớn hơn 150 cá thể/m2 là đạt yêu cầu.

Vào các kỳ con nước sau chúng ta đều phải lấy nước vào đầm và thải nước ra để lấy nguồn thức ăn cho rươi. Lư ý nên loại bỏ các địch hại vào trong đầm bằng lưới chắn.

Cách nuôi rươi đảm bảo hiệu quả cao đó là không được dùng bất kì loại hóa chất nào. Hạn chế lấy nước vào đầm ở các thời điểm nguồn nước bị ô nhiễm và những thời kỳ phun thuốc trừ sâu. 
 
Thu hoạch rươi


Sau khi lấy giống và nuôi rươi được 6 tháng, rươi trưởng thành hay còn gọi là rươi thành thục có thể thu hoạch được.

Rươi thành thục chuẩn bị sinh sản thì con cái sẽ có màu xanh nhạt, con đực có màu trắng sữa với kích thước lớn hơn rươi bình thường, cơ thể rươi rất dễ vỡ.

Vào kỳ con nước, chúng ta sẽ lấy nước vào đầm. Rươi thành thục sẽ nổi trên mặt nước và bơi ra cống để sinh sản. Mắc đáy có kích thước 1mm – 3mm vào cửa cống và tháo nước, rươi thành thục sẽ theo nước chui vào đáy, hãy nhẹ nhàng nhấc túi đáy đổ rươi ra chậu. Giờ bạn chỉ việc xuất bán hoặc chuyển vào khay xốp giữ lạnh để bảo quản. Rươi sống được khoảng 5 – 7 ngày.

Trên đây là kỹ thuật nuôi rươi mang lại năng suất cao. Bà con có thể thu được lợi nhuận kinh tế rất cao từ nghề nuôi rươi này. Kỹ thuật nuôi rươi này được người dân Tứ Kỳ áp dụng và cũng là nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây. Chúc bạn thành công!
http://ruoi.com.vn
Đọc tiếp »

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

TLTS - Nam Định: Nuôi ba ba khổng lồ, mỗi năm kiếm hơn nửa tỷ đồng

Với niềm khao khát làm giàu trên chính mảnh đất quê hương, anh Lê Hồng Dũng, 41 tuổi, thôn Dương, xã Yên Dương, huyện Ý Yên (Nam Định) đã xây dựng thành công mô hình nuôi ba ba gai. Nhờ nuôi loài ba ba khổng lồ này mà gia đình anh Dũng đã kiếm được hơn nửa tỷ đồng/ năm.

Trước khi bén duyên với con ba ba, anh Dũng có mở một xưởng gỗ trên tỉnh Sơn La và thuê nhiều người về làm. Trong thời gian ở trên đó, qua tiếp xúc và tìm hiểu các hộ nuôi ba ba gần đó, anh thấy nuôi ba ba gai cho hiệu quả kinh tế cao hơn cả làm gỗ.

“Thấy mỗi lần người ta bán có mấy con ba ba mà thu về mấy chục triệu mà trong khi đó thấy bán suốt. Ngồi tính toán sơ sơ thì cả sưởng mộc hàng chục người làm của mình thu nhập không bằng hai ông bà già nuôi ba ba nên sau đó tôi quyết định về quê để nuôi loại ba ba này.” Anh Dũng kể lại.

Nhờ nuôi ba ba khổng lồ mà mỗi năm gia đình anh Dũng có thu nhập hơn nửa tỷ đồng.

Năm 2004, sau khi đã nắm được kỹ thuật nuôi ba ba trong tay, anh Dũng mạnh dạn đầu tư xây dựng và cải tạo ao nuôi, hệ thống thay thoát nước… và bắt đầu khởi nghiệp với loại ba ba khổng lồ này. Những năm đầu bắt tay vào khởi nghiệp, anh Dũng gặp không ít khó khăn, thách thức như vốn ít, chưa có kinh nghiệm nuôi nên đàn ba ba cũng chậm lớn và thất thoát đầu con.

Trong quá trình nuôi, anh Dũng không ngừng học hỏi thêm kinh nghiệm, tham gia vào các lớp tập huấn kiến thức, kỹ thuật nuôi ba ba, cũng như đi thăm quan các mô hình nuôi ba ba gai cho hiệu quả cao ở trong và ngoài tỉnh.


Trung bình mỗi năm gia đình anh Dũng bán ra thị trường gần 4000 con ba ba giống, được bán với giá 150 ngàn đồng/con.

Sau nhiều năm lăn lộn với nghề, đến nay quy mô nuôi ba ba gai của gia đình anh Dũng đã lên tới hàng nghìn con con. Trung bình, mỗi năm gia đình anh Dũng xuất bán ra thị trường gần 4000 con ba ba giống với giá 150.000 đồng/con và hơn 500kg ba ba thương phẩm với giá 550.000 đồng/1kg. Sau khi trừ hết chi phí, mỗi năm gia đình anh Dũng lãi hơn 500 triệu đồng.

Chia sẻ với Dân Việt, anh Dũng cho biết, so với các loại vật nuôi khác thì nuôi loại ba ba này khá dễ và cho hiệu quả kinh tế cao. Trung bình nuôi khoảng 3 năm là ba ba sẽ đạt trọng lượng trên 5kg, nếu giữ lại nuôi tiếp thì mỗi năm tiếp theo ba ba sẽ lớn được từ 3-5kg và sẽ cho hiệu quả kinh tế cực cao.

Ba ba mẹ mỗi năm đẻ 3 lứa, mỗi lứa trung bình khoảng 20 quả và ấp trong vòng khoảng hơn 50 ngày là nở.

“Hiện tại gia đình có gần 100 cặp ba ba bố mẹ, trung bình mỗi năm cho ra được gần 4000 nghìn con giống, hiện đang được bán với giá 150 ngàn đồng/con. Ngoài ra, mỗi năm cũng bán ra hàng trăm con ba ba thương phẩm, có những con trọng lượng lên tới hàng chục kg. Sau khi trừ hết chi phí mỗi năm gia đình tôi lãi hơn 500 triệu.” anh Dũng cho hay.

Anh Lê Hồng Dũng khẳng định, so với chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi ba ba gai thương phẩm có năng suất cao hơn, không phải suy nghĩ nhiều. Thức ăn của chúng cũng khá dễ kiếm và rẻ tiền.

“Con ba ba này nó phàm ăn lắm, từ cá nhỏ cho đến lợn hay gà nó ăn hết, thậm chí chết rồi nướng lên là nó ăn hết. Thời gian gần đây giá lợn hơi rẻ nên gia đình toàn mua thịt lợn về nướng cho nó ăn và trong quãng thời gian đó gia đình tôi tiết kiệm được đáng kể tiền thức ăn” anh Dũng chia sẻ.
Cũng theo anh Dũng, vào khoảng 2011 giá trị của con ba ba này cực cao khoảng 2 triệu đồng/1kg và con giống có giá lên tới 700 ngàn đồng/con nên nuôi vào thời điểm đó thu nhập cực lớn. Tuy giờ giá giảm mạnh nhưng tính ra nuôi nó vẫn cho kinh tế cao hơn các loại vật nuôi khác vì chi phí thức ăn khá thấp.

Chia sẻ về kỹ thuật nuôi ba ba gai, anh Dũng cho hay, ba ba gai có thể nuôi trong bể xi măng hoặc trong ao, diện tích ao tùy thuộc vào mật độ thả nuôi, nhưng phải đảm bảo mật độ 0,5 – 2 con/m2, độ sâu mức nước ao từ 1,5 – 2m, đáy ao cần xây dựng sao cho có độ nghiêng dần về cống thoát nước, góc ao phải có lối cho ba ba bò lên khu đất trống để phơi nắng khi cần thiết. Phải đảm bảo nước trong ao, bể luôn sạch, vào mùa Đông nên chú ý để bèo nhiều giúp hút chất bẩn trong nước và che ấm cho ba ba, vào mùa Hè thì vớt bớt bèo đi, tạo thông thoáng cho ba ba phát triển..

Theo: Dân Việt
Đọc tiếp »

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

TLTS - Quy trình nuôi ghép Tu Hài, Ốc Hương và Rong Câu

Việc nuôi ghép các đối tượng này trong ao đầm nước mặn vừa đa dạng hóa đối tượng nuôi vừa hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao thu nhập cho người dân. Quy trình này đang được nhân rộng tại các vùng ven biển miền Trung.

Chuẩn bị ao nuôi

Khu vực nuôi là ao, đầm nguồn nước có độ mặn từ 25‰ trở lên trong suốt thời gian nuôi (8 tháng). Diện tích tối thiểu từ 3.000 m2 trở lên, trong đó, diện tích nuôi tu hài và rong câu ở giữa phải chiếm 30 – 50% tổng diện tích ao nuôi. Ao có bờ bao chắc chắn và cống cấp, thoát nước đảm bảo gần nguồn nước để thuận tiện thay nước. Chất lượng nước có pH 7,5 – 8, đáy cát bùn (cát nhiều hơn bùn, không nhiễm phèn và ít mùn bã hữu cơ).

Tháo cạn nước ao, đầm dọn sạch các loại rong, rêu, san hô, cây cỏ… tu sửa bờ ao, cống, nếu bùn đáy dày thì có thể nạo vét bớt, san bằng đáy, tạo dốc về phía cống thoát.
Dùng vôi nông nghiệp (CaO) rải xuống đáy ao, liều lượng 500 – 700 kg/ha để vệ sinh, sát trùng đáy ao. Nếu đáy ao không bằng phẳng cần rải vôi tập trung ở những vùng trũng, nhiều bùn. Xung quanh bờ ao phải vây lưới cước quanh bờ, sát mép nước (cỡ mắt lưới a = 0,3 cm) để ngăn không cho ốc bò lên bờ.

Khu vực nuôi tu hài và rong câu ở giữa ao được vây chắn lưới xung quanh với diện tích 1.000 – 2.000 m2 (dài 40 – 50 m và rộng 25 – 40 m). Đào rãnh sâu 15 – 20 cm, rộng 20 cm, cắm cọc đỡ lưới (đường kính cọc 5 – 7 cm, cao 1 m, khoảng cách 2 m/cọc), sau đó, đưa lưới xuống rãnh phủ đất và lèn chặt chân.

Cấp nước sạch cho ao vào kỳ triều cường, nước được lọc qua hệ thống đăng lưới chắn để ngăn rác, cá tạp và các loại địch hại khác vào ao. Duy trì mực nước 0,8 – 1,2 m trong ao và lắp quạt khí để đảo nước và tăng cường ôxy hòa tan trong ao khi ốc lớn, mật độ nuôi cao (2 dàn quạt/3.000 m2). 
 
Thả giống và chăm sóc

Thả giống


Giống ốc hương: được mua về cỡ 15 – 20 mm (4.000 – 6.000 con/kg), vận chuyển bằng bao nilon bơm ôxy, đóng kín vào thùng xốp, giữ nhiệt độ 24 – 250C hoặc đóng khô, giữ nhiệt độ 24 – 250C trong suốt quá trình vận chuyển. Ốc khoẻ mạnh, màu sắc tươi sáng, bò lên nhanh khi cho ăn và vùi toàn bộ xuống cát khi ăn xong. Không có các biểu hiện nhiễm bệnh như trắng vỏ, gãy đỉnh vỏ, sưng vòi…

Giống tu hài: có thể mua từ trại giống sản xuất nhân tạo hoặc giống thu gom từ tự nhiên, giống thường có kích cỡ 1.500 – 3.000 con/kg, giống phải khỏe mạnh không bị sứt sát, màu sắc tươi sáng và vòi không bị sưng. Mật độ thả 7 – 8 con/m2 ghép với trồng rong câu (0,5 kg/m2). Rong và tu hài được trồng và nuôi trong đăng chắn ở giữa ao.

Ốc hương: nuôi làm 2 giai đoạn: Giai đoạn ương (1 tháng đầu), thả 800 – 1.000 con/m2, nuôi trong đăng chắn với diện tích 200 m2. Nuôi lớn: Sau 1 tháng nuôi, ốc đạt cỡ 700 – 900 con/kg, mở lưới đăng và san thưa ốc trong ao (khu vực nuôi ốc) để nuôi lớn, mật độ 30 – 40 con/m2. 
 
Chăm sóc, quản lý

Thức ăn cho ốc hương bao gồm cá tạp, tôm, tép…; cho ăn 1 – 2 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm 10% trọng lượng thân và được điều chỉnh hàng ngày theo sức ăn của ốc. Nên sử dụng thức ăn tươi, không cho ốc ăn thức ăn ôi thiu. Có thể căn cứ vào điều kiện môi trường nước ao nuôi cùng với tốc độ sinh trưởng và mật độ ốc thả mà có thể san thưa để đảm bảo ốc sinh trưởng tốt. Cùng đó, có thể kết hợp tháo cạn nước, vệ sinh ao để san thưa sang ao và đăng nuôi khác nếu môi trường đáy ao có nhiều bùn và rong.

Trong quá trình nuôi thường xuyên quan sát hoạt động ăn mồi của ốc, kiểm tra sự dò rỉ nước ao, kịp thời phát hiện địch hại để diệt trừ. Theo dõi lượng thức ăn thừa hàng ngày để điều chỉnh cho phù hợp. Thay nước định kỳ 3 – 5 ngày/lần, mỗi lần 20 – 30% lượng nước ao. Luôn phải giữ cho môi trường ao nuôi trong sạch, tránh ô nhiễm làm ốc bị nhiễm bệnh. Duy trì mực nước trong ao 0,8 – 1,2 m để ổn định nhiệt độ, hạn chế rong đáy phát triển. Ốc hương thường vùi mình trong bùn và sống chủ yếu dưới tầng đáy, do vậy để tránh ô nhiễm đáy cần vớt hết thức ăn thừa. Vận hành quạt khí liên tục từ tháng thứ 2 trở đi nhằm cung cấp ôxy hòa tan và gom tụ chất thải vào giữa ao làm thức ăn cho tu hài. Cùng đó, nguồn dinh dưỡng sinh ra trong quá trình phân hủy mùn bã hữu cơ, bài tiết của ốc sẽ được rong câu hấp thụ, vừa làm trong nước ao vừa hạn chế được tảo và vi khuẩn gây bệnh phát triển. Trong vụ nuôi, cần hạn chế sự biến động lớn của độ mặn (không quá 5‰), để tu hài, rong câu, ốc hương phát triển tốt cần định kỳ thay nước ao đầm (15 – 20‰) vào kỳ con nước có độ mặn cao để cung cấp thêm nguồn thức ăn cho tu hài và làm trong nước, giúp ốc hương và rong câu phát triển tốt.

Ổn định các yếu tố môi trường trong suốt vụ nuôi như nhiệt độ nước: 27 – 300C; độ trong 30 – 35 cm, pH 7,5 – 8,5, độ kiềm 100 – 120 mg/l kiềm, ôxy hòa tan trên 4 mg/l, độ mặn 25 – 30‰; H2S < 0,01 mg/l; NO2 và NO3 < 0,1 mg/l. Cần kiểm tra chất đáy định kỳ (tháng/lần), nếu chất đáy có mùi hôi thối, chuyển sang màu đen thì tiến hành cào đáy, quạt và thay nước. Ngoài ra có thể bổ sung thêm cát sạch dày khoảng 2 cm. 
 
Thu hoạch

Sau 5 – 6 tháng nuôi, khi ốc hương đạt kích cỡ lớn 25 – 30 con/kg con thì thu hoạch bằng cách dùng bẫy, lồng nhử mồi hoặc vợt để thu tỉa những con to, con nhỏ để lại nuôi tiếp. Sau 8 tháng nuôi trở lên có thể thu hoạch tu hài bán nếu đạt kích thước thương phẩm 30 – 40 con/kg.

Rong câu sau 2 tháng nuôi có thể tiến hành thu tỉa (tháng/lần) và luôn đảm bảo mật độ rong 0,5 – 1 kg/m2.

Nguồn: Thủy sản Việt Nam được kiểm duyệt bởi Farmtech VietNam.
Đọc tiếp »

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2018

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỐNG SÒ HUYẾT

Hiện nay, việc sản xuất nhân tạo con giống sò huyết đã thành công, tuy nhiên chưa đủ cung cấp cho thị trường. Bởi vậy, con giống vẫn phụ thuộc chủ yếu vào khai thác tự nhiên.
Xác định được trữ lượng con giống giúp chủ động sản xuất 
Con giống ngoài tự nhiên
Hiện, nguồn giống phục vụ thị trường chủ yếu là từ khai thác tự nhiên. Bởi vậy, trước khi tiến hành lấy giống, người nuôi cần phải điều tra, nắm được diện tích bãi giống, trữ lượng giống để có thể chủ động trong sản xuất. Xác định diện tích qua điều tra vùng phân bố của sò giống và xác định trữ lượng giống dựa trên diện tích bãi giống.
Căn cứ vào khu vực phân bố của sò để lựa chọn vị trí khai thác phù hợp. Trong tự nhiên, sò phân bố ở ba khu vực: Nơi có thủy triều cao, thủy triều vừa và thủy triều thấp. Nhưng số lượng của sò huyết tại ba khu vực này rất khác nhau. Theo các kết quả điều tra, tại vùng thủy triều vừa và thấp thì sò huyết tập trung nhiều nhất. Thời điểm thích hợp để khai thác giống là khoảng 10 - 15 ngày sau khi người nuôi nhìn thấy sò xuất hiện. Có hai hình thức khai thác đang được áp dụng, cụ thể:
Khai thác trên bãi cạn: Chọn thời điểm khi triều xuống lộ mặt bãi, dùng cào cào lớp bùn trên mặt, sau đó sử dụng sàng hoặc rổ đãi bùn loại bỏ rác, tạp vật để lấy sò giống. Mỗi lần lấy giống xong phải san lại mặt bãi cho bằng phẳng để thu giống sò đợt sau.
Khai thác bãi ngập nước: Phương pháp này đòi hỏi quy mô lớn hơn, có thể sử dụng thuyền máy có lưới cào. Thời điểm là vào những ngày có ít sóng hoặc thủy triều bắt đầu xuống nhưng nước vẫn còn ngập bãi. Cách tiến hành tương tự như ở trên.
Dụng cụ: cào, lưới, thuyền máy có lưới cào, sàng, rổ.
Sản xuất giống nhân tạo
Để sò huyết bố mẹ có chất lượng cao, khi lấy sò ngoài tự nhiên về, chúng cần được nuôi ở khu vực triều thấp, có điều kiện thức ăn phong phú, nước lưu thông. Đặc biệt, nuôi với mật độ thưa để thời gian thành thục nhanh. Khi sò đã thành thục, tiến hành sinh sản nhân tạo. Công đoạn này được thực hiện trong phòng thí nghiệm. Các phương pháp kích thích sinh sản thường được sử dụng gồm:
Kích thích bằng dung dịch Amoniac (NH4OH): tiêm 0,2 - 0,5 ml nước biển có chứa 2‰ Amoniac vào xoang màng áo của sò, sau đó cho vào nước biển đã lọc sạch, 20 phút sau sò sẽ đẻ.
Sử dụng dung dịch Amoniac kết hợp với hạ thấp nhiệt độ: Có thể chia làm phương pháp tiêm và ngâm. Đối với tiêm, sau khi tiêm dung dịch Amoniac cho sò vào nước có nhiệt độ 11 - 130C trong 90 phút, sau đó vớt sò ra và cho vào nước biển ở nhiệt độ bình thường 280C, sò sẽ đẻ sau 10 phút. Ở phương pháp ngâm, sò ngâm trong dung dịch Amoniac 1‰, sau 3 giờ vớt sò ra để khô khoảng 90 phút, sau đó thả sò vào nước biển có nhiệt độ 11 - 130C trong 90 phút, cuối cùng cho vào nước biển có nhiệt độ bình thường, sò sẽ đẻ sau 20 phút.
Hạ nhiệt độ kết hợp nước chảy: Đem sò bố mẹ vào tủ lạnh ở 100C trong 2 giờ sau đó chuyển sò sang nước biển ở nhiệt độ bình thường. Kích thích nhiệt ở 7 - 120C kết hợp với nước chảy.
Trứng sò sau khi đẻ được lọc qua lưới phiêu sinh rồi cho vào thau, chậu, sau đó cho tinh dịch vào (tinh dịch có thể lấy bằng các kích thích sinh sản hay giải phẫu). Khuấy đều trong thời gian 30 phút, sau đó rửa lại vài lần, ấu trùng phù du sẽ xuất hiện khoảng sau 2 giờ. Nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn thụ tinh là 280C.
Vận chuyển
Sò giống tốt thường có màu trắng hồng, sạch sẽ, không lẫn tạp vật. Tránh thả giống có mùi hôi hoặc lẫn các sinh vật địch hại như cua ốc. Sau khi lấy giống có thể vận chuyển giống bằng phương pháp giữ ẩm. Trong quá trình vận chuyển con giống tránh để sò tiếp xúc với nước ngọt đặt biệt là nước mưa. Thời gian vận chuyển không quá 6 giờ, sò giống được đựng trong bao bố, để nơi thoáng mát, vận chuyển bằng xe hoặc tàu thuyền. Trong quá trình di chuyển, thường xuyên tưới nước biển lên các bao đựng sò giống để sò dễ hô hấp.
Lưu ý, nên duy trì nhiệt độ thấp giúp thời gian vận chuyển lâu hơn và tỷ lệ sống cao hơn.
Nguồn: thuysanvietnam

Đọc tiếp »

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

TLTS - Kỹ thuật nuôi bào ngư thương phẩm đạt năng suất cao


Bào ngư là một loài hải sản quý hiếm và rất bổ dưỡng. Từ xa xưa, bào ngư đã được xem là một trong những món ăn chỉ xuất hiện trong các bữa tiệc xa xỉ. Bên cạnh vi cá mập và hải sâm, bào ngư chỉ dành để chế biến món ăn cho các bậc vua chúa và danh gia vọng tộc. 

Sơ lược về bào ngư 

Con bào ngư.

Bào ngư là con gì? Bào ngư là loài hải sản có giá trị dinh dưỡng cao, giá trị kinh tế lớn. Trong đó, giá trị kinh tế cao nhất là loại bào ngư chín lỗ (tên khoa học là: Haliotis diversicolor) bởi chúng không chỉ là nguồn thực phẩm bổ dưỡng, mà còn là một vị thuốc tự nhiên vô cùng quý hiếm. Thịt bào ngư rất giòn ngon và bổ dưỡng (một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng bào ngư còn giúp kìm hãm sự phát triển của các tế bào ung thư).

Bào ngư sống bám vào đá, nơi nước trong, có sóng và ở xa cửa sông, lúc nhỏ bào ngư bám gần bờ nhưng càng lớn chúng sẽ di chuyển ra xa và sâu hơn. Thức ăn chủ yếu của chúng là các loài rong tảo biển, mùn bã hữu cơ. Những con bào ngư to thường sinh sống trong các tảng đá ngầm và ở sâu nên việc đánh bắt rất khó khăn. “Có người ví việc đánh bắt bào ngư cũng nguy hiểm như khi thu hoạch tổ chim yến vậy!”. 

Tìm hiểu về kỹ thuật nuôi bào ngư thương phẩm 

Ngày nay, nhận thấy được giá trị của bào ngư nên ngoài việc khai thác từ tự nhiên, bào ngư còn được bà con nuôi trồng rất hiệu quả. 

1) Chọn con giống và thả nuôi
 
- Chọn con giống: Cũng giống như những loài hải sản khác, việc chọn bào ngư giống có chất lượng, khỏe mạnh, không dị hình, độ bám khỏe,… sẽ quyết định đến năng suất vụ nuôi. Vì thế, bà con chỉ nên mua con giống ở những trung tâm uy tín để con giống không bị mang mầm bệnh.

- Thả nuôi: Bà con có thể thả bào ngư giống quanh năm, tuy nhiên cần lưu ý là không nên thả giống vào thời điểm nắng nóng hay mưa bão, đồng thời khi vận chuyển con giống nên chọn lúc chiều mát hoặc buổi tối để tránh gây stress cho bào ngư. Nên thả giống vào lúc chiều tối muộn khi thời tiết mát mẻ với mật độ 5-10 con/m2.

- Điều kiện thích hợp thả nuôi: bào ngư là loài hải sản nước mặn nên nguồn nước phù hợp để nuôi bào ngư phải có độ mặn cao và ổn định trong khoảng 29-32‰, nhiệt độ thích hợp từ 18-30 độ C, pH từ 7.5 - 8.5, oxy hòa tan >5mg/l,… 

2) Mô hình nuôi bào ngư thương phẩm 

Các lồng nuôi bào ngư

Có 3 mô hình nuôi bào ngư phổ biến nhất hiện nay là: nuôi lồng trong bể xi măng, nuôi lồng treo ngoài biển, nuôi thả đáy trên bãi đã (hoặc rạn san hô) dọc bờ biển.

a) Mô hình nuôi bào ngư trong lồng bể xi măng:

Các bể xi măng để nuôi bào ngư thường có hình chữ nhật và có mái che nắng, có một hộc nhỏ để lọc nước biển chảy tuần hoàn. Các chỉ số môi trường trong lồng nuôi bào ngư gồm: độ mặn (30-35‰), pH (7.6-7.8), Oxy hòa tan (>5ml), nhiệt độ (26-30 độ C). Sử dụng các lồng nhựa hình chữ nhật (kích thước: 50cm x 40cm x 30cm) để nuôi bào ngư bằng cách treo trong bể hoặc xếp chồng lên nhau cách đáy 20cm.

b) Mô hình nuôi bào ngư trong lồng treo ngoài biển:

Cũng sử dụng các lồng nhựa kích thước 50cm x 40cm x 30cm và treo trên bè nổi cách nhau 0.5m ở độ sâu 2-5m, các lồng nuôi bào ngư được đặt ở nơi kín gió và không có sóng lớn, nước luôn đạt độ mặn thích hợp từ 30-35‰. Các bè nổi được thiết kế giống bè nuôi tôm hoặc cá biển, được cố định bằng neo sắt, khi cần thiết có thể nhổ neo để di chuyển bè đến vị trí thích hợp khác. Bà con có thể nuôi kết hợp bằng cách bào ngư nuôi ở trên, tôm hùm (hoặc cá) nuôi ở dưới.

c) Mô hình nuôi bào ngư trên bãi đá/rạn san hô:

Nuôi bào ngư trên bãi đá hiện đang rất phổ biến, khu vực được chọn nuôi thường là những nơi có nền đáy là các phiến đá tảng xếp chồng lên nhau tạo thành các hang hốc cho bào ngư ẩn nấp. Bên cạnh đó, nguồn nước biển ở những nơi này phải lưu thông tốt và đạt những chỉ số môi trường thích hợp như: độ trong mực nước >1.5m, độ sâu mực nước nuôi từ 1-3m,… 

3) Chăm sóc và quản lý 

Bào ngư là loài ưa sạch, nên nếu nuôi theo mô hình lồng treo thì trước khi cho chúng ăn bà con cần lấy hết thức ăn thừa ra khỏi lồng rồi mới cho thức ăn mới vào. Nguồn thức ăn của bào ngư chủ yếu là hỗn hợp rong biển (rong mơ, rong câu, rong đông,…).

+ Một điều khác biệt khi nuôi bào ngư là lượng thức ăn phải thừa không được thiếu, nếu thiếu thì lần cho ăn sau phải tăng lượng thức ăn lên, mỗi lần cho bào ngư ăn lượng thức ăn tương ứng từ 10-30% trọng lượng thân. Lượng thức ăn có thể thay đổi tùy theo nhiệt độ nước và mức độ sử dụng thức ăn của bào ngư.

+ Nếu sử dụng rong khô thì trước khi cho ăn phải ngâm rong trong nước biển từ 30-60 phút rồi mới cho ăn. Nếu thấy bào ngư bắt mồi kém thì cần kiểm tra lại chất lượng của thức ăn.

+ Nên kiểm tra lồng nuôi mỗi ngày để loại bỏ những địch hại có trong lồng như: cua, cồng,… Khi bào ngư chết phải vớt xác ra khỏi lồng ngay để tránh ảnh hưởng đến những các thể còn lại.

Bên cạnh việc cho ăn theo liều lượng thích hợp, trong suốt vụ nuôi bà con cũng cần thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường như: độ mặn, nhiệt độ, màu nước,… để phát hiện kịp thời những sự cố bất thường và có hướng điều chỉnh hợp lý. Định kỳ kiểm tra tỉ lệ sống và sinh trưởng của bào ngư, nếu thấy bất ổn bà con nên di chuyển bè đến những địa điểm khác có môi trường thuận lợi hơn. 

Khi nào thì thu hoạch bào ngư? 

Thông thường, sau khi nuôi từ 24-30 tháng bào ngư đạt cỡ thương phẩm 40-50 con/kg thì tiến hành thu hoạch. Nên thu tỉa những con bào ngư đạt kích cỡ, những con nhỏ hơn nên tiếp tục nuôi. Thu hoạch bào ngư lúc thủy triều xuống thấp nhất và thời tiết mát mẻ.

Theo: Hoàng Ngân (TSVN) - EcoClean t/h
Đọc tiếp »