Hiển thị các bài đăng có nhãn KỸ THUẬT NUÔI CUA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KỸ THUẬT NUÔI CUA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

NUÔI GHẸ XANH THƯƠNG PHẨM: VỐN NHỎ, LÃI LỚN

Sau thành công của đề tài: Sản xuất giống ốc Hương và bàn giao qui trình công nghệ nuôi ốc Hương thương phẩm cho các tỉnh miền Trung và Nam Bộ của Tiến sỹ, Phó Giám đốc Nguyễn Thị Xuân Thu,Trung tâm nghiên cứu Thủy sản III đang tiếp tục triển khai hàng loạt đề tài nuôi biển có giá trị kinh tế và thương mại : Sản xuất giống và nuôi Cua Biển (do thạc sỹ Nguyễn Cơ Thạch chủ trì) ; Sản xuất và nuôi thử nghiệm Bào Ngư, Cầu Gai (do TS. Lê Quốc Minh chủ trì); Dự án hợp tác nuôi Hải Sâm (do thạc sỹ Rayier Pitt chủ trì). 
Ðặc biêt đề tài Sản xuất giống và nuôi thương phẩm Ghẹ Xanh (Portunus Pelagicus) do TS. Nguyễn Thị Bích Thúy chủ trì đang mở ra triển vọng lớn đối với vùng nước bị ô nhiẽm do nuôi tôm, không những giúp bà con ngư dân xóa đói giảm nghèo mà còn tạo ra sản phẩm có giá trị xuất khẩu, thu nhiều ngoại tệ. 
Hiện Trung tâm NCTS III đã bước đầu thành công trong việc sản xuất giống Ghẹ Xanh, tháng 1-2003 đã hỗ trợ bà con ngư dân ở xã Xuân Hòa, huyện Sông Cầu tỉnh Phú Yên 12 vạn con giống để nuôi thí điểm tại sáu đìa nuôi. Rút kinh nghiêm đề tài ốc Hương, theo Tiến sĩ Thúy, Trung tâm sẽ chỉ chuyển giao công nghệ sản xuất giống cho các địa phương khi nào bà con ngư dân hoàn toàn làm chủ qui trình và kỹ thuật nuôi Ghẹ Xanh trong ao đìa.
Huyện Sông Cầu, Phú Yên những năm trước liên tục trúng mùa Tôm Sú, nhưng do khai thác liên tục, nguồn nước bị ô nhiễm, mấy vụ nay nghề nuôi tôm thất thu. Hai năm trước, một đìa nuôi tôm 4000 mét vuông giá tới một trăm năm mươI triệu đồng, nay không nổi dăm chục triệu. Nhiều gia đình không dám thả tôm, vì tôm bị bệnh chết hàng loạt. Việc chuyển hướng nuôi Ghẹ Xanh thương phẩm trên các ao đìa nuôi tôm, hoặc nuôi xen kẽ giữa tôm sú và ghẹ xanh sẽ mở ra khả năng phát triển nghề nuôi biển bền vững ở vung bãi ngang không chỉ cho xã Xuân Hòa mà cho cả huyện Sông Cầu và cả tỉnh Phú Yên. Theo ông Nguyễn Khắc Tân, phó giám đốc Trung tâm Khuyến ngư Phú Yên, nếu dự án nuôi Ghẹ Xanh của tiến sỹ Nguyễn Thị Bích Thúy thành công, Phú Yên sẽ huy động hơn 3000 ha ao đìa để nuôi Tôm Sú xen ghẹ hoăc nuôi ghẹ thương phẩm.
Tính khả thi của dự án nuôi Ghẹ Xanh càng có cơ sở được người dân Sông Cầu đón nhận khi Công ty Starbay của Anh đang kí hợp đồng với các thương lái thu mua ghẹ lột đưa về các nhà máy đông lạnh ở Nha Trang chế biến hàng xuất khẩu. Vào thời điểm đầu tháng 3/2003, một kg Ghẹ Xanh giá mua là 20.000 đồng, trong khi đó một kg ghẹ lột giá có thể gấp bốn lần (80.000đ/kg). Bí quyết cho ghẹ trở thành ghẹ lột đã được nhiều ngư dân ở xã Xuân Hòa huyện Sông Cầu khám phá. Muốn có nhiều ghẹ lột xuất khẩu, nhất thiết phải có vùng sản xuất ghẹ tập trung. Sông Cầu phải chăng sẽ là huyện tiên phong sản xuất Ghẹ Xanh thương phẩm của cả nước?
Một số vấn đề kỹ thuật nuôi ghẹ xanh trong đìa
1. Tẩy dọn ao đìa
Ao đìa cần được chuẩn bị theo các bước sau:
ủ vôi với phân hữu cơ đã hoai (phân chim, gà hoặc trâu bò) trong khoảng 10-15 ngày (Lượng phân hữu cơ là 5 kg/100 m2 và lượng vôi trộn là 20 kg/100 m2 hoặc 25 kg/100 m2 đối với những đìa không phơi nắng được); Xả cạn nước trong đìa; Cào sạch lớp bùn trên mặt đìa; Bón phân và vôi đã ủ vào đìa; Cày và phơi nắng đìa khoảng 7 15 ngày; Sau đó lấy nước vào đìa qua lưới chắn (mắt lưới nhỏ) để tránh địch hại vào đìa; Ðể lắng nước trong đìa 3 4 ngày, sau đó xả cạn, lấy nước lại vào đìa cho tới 80 120 cm; Sau 2-3 ngày xử lý nước bằng thuốc tím với liều lượng 5ppm (5 kg/1000 m2); Sau 3 - 4 ngày tiến hành gây màu nước trong đìa; Ngày đầu bón phân u rê với lượng 0,5 - 1ppm (0,5 - 1 kg/1000 m2); Ngày thứ hai bón NPK với lượng 0,5 -1ppm (0,5 - 1 kg/1000 m2); Sau 2 3 ngày khi nước trong đìa lên màu thì tiến hành thả ghẹ bột.
2. Thả và ương nuôi ghẹ 
- Khi thả ghẹ bột xuống đìa cần phải kiểm tra độ muối và nhiệt độ ở trong đìa và nước trong thùng vận chuyển ghẹ.
- Cấp nước từ từ trong đìa vào thùng vận chuyển trong khoảng 20 40 phút để ghẹ bột làm quen với môi trường sống, sau đó thả ghẹ vào đìa.
- Mật độ thả là 5 6 con/m2.
Thức ăn ương ghẹ bột 
Trong 20 ngày đầu : thức ăn ương ghẹ bột gồm các loại cá, ruốc, tôm nhỏ hấp chín và cà qua rổ nhựa, sau đó hoà đều với nước tạt khắp đìa.
Thức ăn được tính theo diện tích đìa với lượng cho ăn như sau :
3 ngày đầu lượng cho ăn là 0,6 g/ m2; 3 ngày tiếp theo là 0,8 g/m2; 3 ngày tiếp theo là 1 g/m2; 6 ngày tiếp theo là 1,2 g/m2; 5 ngày tiếp theo là 1,5 g/m2.
Trong 10 ngày tiếp theo thức ăn cho ghẹ là các loại cá, ruốc, cua ghẹ giã (đâm) nhỏ hoà với nước tạt khắp đìa.
Thức ăn được tính theo khối lượng ghẹ và lượng cho ăn là 25% tổng khối lượng ghẹ nuôi, tương đương với lượng cho ăn là 3 kg/1000m2
Thức ăn nuôi ghẹ trong 2 tháng sau khi ương
- Sau 1 tháng ương nuôi, khối lượng ghẹ đạt trung bình 5-7 g/con
- Thức ăn nuôi ghẹ là các loại cá, cua ghẹ, quy băm nhỏ
Tháng nuôi đầu tiên : lượng cho ăn là 20% tổng khối lượng ghẹ nuôi
- Tương đương với lượng cho ăn là 4 kg/1000m2 trong 10 ngày đầu
- Tương đương với lượng cho ăn là 5 kg/1000m2 trong 10 ngày tiếp theo
- Tương đương với lượng cho ăn là 6 kg/1000m2 trong 10 ngày sau
Tháng nuôi thứ 2 : lượng cho ăn là 10 % tổng khối lượng ghẹ nuôi
- Tương đương với lượng cho ăn là 12 kg/1000m2 trong 10 ngày đầu
- Tương đương với lượng cho ăn là 17 kg/1000m2 trong 10 ngày tiếp theo
- Tương đương với lượng cho ăn là 20 kg/1000m2 trong 10 ngày sau
3. Quản lý và chăm sóc ghẹ nuôi
Trong 3 tháng nuôi, cần phải chú ý quản lý và chăm sóc đìa nuôi ghẹ theo các yêu cầu sau:
- Giữ đìa nuôi có màu tảo lục hoặc tảo khuê (độ trong khoảng 25 - 30 cm)
- Trong 1 tháng đầu ương ghẹ bột, chú ý không được cấp nước trực tiếp vào đìa nuôi
- Trong 2 tháng nuôi tiếp theo, chú ý chọn con nước sạch khi thay nước cho đìa nuôi
- Thức ăn cho ghẹ ăn phải tươi và phải được rửa sạch trước khi cho ăn
- Kiểm tra khối lượng ghẹ nuôi 15 ngày/ lần bằng cân đĩa nhỏ
- Có nhật ký để ghi chép và theo dõi ghẹ nuôi hàng ngày (ghi chép các chi phí, lượng thức ăn hàng ngày, tình trạng sức khoẻ của ghẹ nuôi, các sự cố và biện pháp xử lý)
Theo tài liệu của TS. Nguyễn Thị Bích Thuý Trung tâm NCTS III
Đọc tiếp »

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

TLTS - Mô hình nuôi kết hợp cua đồng - cá chạch trên ruộng lúa

Theo các chuyên gia nuôi trồng thủy sản trong nước thì mô hình nuôi kết hợp 3 trong 1: cua đồng - cá chạch - ruộng lúa là mô hình nuôi còn khá mới mẻ. Xuất hiện đầu tiên tại Hải Phòng và đến hiện nay, mô hình nuôi này đã và đang mang đến những thành công nhất định cho bà con tại nhiều địa phương.

Mô hình nuôi cua đồng kết hợp cá chạch trên ruộng lúa mang đến nguồn thu nhập ổn định cho nhiều bà con. Ảnh: Internet. 
 
1) Cải tạo và chuẩn bị ruộng nuôi 
 
Cũng giống như nhiều mô hình nuôi thủy sản khác, giai đoạn cải tạo và chuẩn bị môi trường nuôi thuận lợi sẽ giúp vụ nuôi đạt năng suất cao hơn. 
 
a) Bờ ruộng:
Cần được thiết kế chắc chắn và được phủ bằng nilong hoặc lưới cước chôn sâu 30-40 cm, độ cao thích hợp từ 40-50cm và bờ ruộng hơi nghiêng một góc 45 độ hướng vào trong ruộng để phòng khi trời mưa cua, cá chạch có cơ hội “tẩu thoát” khỏi ruộng nuôi. 
 
b) Bên trong ruộng:
Bề mặt ruộng nuôi nên thiết kế có độ dốc để thuận tiện cho việc thoát nước và thu hoạch. Tại địa điểm cấp thoát nước cần có lưới chắn để tránh cua cá thoát ra ngoài. Trong ruộng nuôi cần thiết kế các ụ giả để tạo chỗ cho cua đào hang và chui rúc. Thiết kế các sàn cho ăn để dễ dàng kiểm tra và quản lý thức ăn. 
 
c) Đào mương:
Mục đích của việc đào mương là tạo chỗ trú cho cua, cá sau khi gặt đồng thời thuận tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch. Bà con nên đào các mương với kích thước rộng: 3m và độ sâu: 0.8 - 1m. Trên mặt mương, bà con nên thả bèo tây hoặc rau muống để che mát cho cua và cá chạch trú ẩn.

Ruộng nuôi theo mô hình kết hợp 3 trong 1. Ảnh: Internet. 
 
2) Chọn con giống và thả nuôi
Thời điểm lý tưởng nhất để thả giống là vào mùa mưa (tức là từ tháng 4 đến tháng 8) hàng năm. Khi chọn cua giống và cá giống cần chọn kích cỡ giống đồng đều để tránh tình trạng chúng ăn thịt lẫn nhau. Do nguồn giống chủ yếu từ tự nhiên nên bà con tuyệt đối tránh mua những con giống bị đánh điện hoặc xây xác, gãy càng.
Mật độ thả thích hợp với cua là 20 con/m2 và cá chạch là 10 con/m2, nên chọn cỡ cua giống từ 100-150 con/kg và cá chạch giống từ 80-100 con/kg. 
 
3) Cách cho ăn
Đối với cua giống mới thả, tốt nhất nên cho chúng nhịn đối khoảng 2-3 ngày rồi mới cho ăn. Cho ăn từ 3-5% trọng lượng thân, mỗi ngày cho ăn 2 lần.

Nguồn thức ăn của cua và cá chạch tương đối phong phú, bên cạnh các loại thức ăn tự nhiên có thể kể đến như: rong rảo, giun cỡ nhỏ, động vật phù du,… bà con có thể kết hợp với thực phẩm nhân tạo như: bột ngô, cám gạo, bột sắn, cá tạp xay nhỏ,…
 
4) Quản lý ruộng nuôi
Có thể nói người nuôi cua đồng và cá chạch tương đối “an nhàn” bởi chúng là những loài sống chui rúc không cần hàm lượng oxy cao, cũng không cần phải sử dụng đến các chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản như nuôi tôm, cá,… khác. Người nuôi chỉ cần định kỳ 7-10 ngày dùng vôi 1.5-2 kg/100 m2 tạt xuống mương nuôi. Mực nước trong ruộng nuôi cần duy trì từ 10-15 cm, còn tại các mương nuôi là từ 60-70 cm. Cách 1 tuần hoặc nửa tháng nên tháo cạn và phơi ruộng khoảng 2-3 ngày rồi mới cấp nước vào, mục đích giúp cua lột vỏ và phòng các mầm bệnh tấn công cá chạch. 
 
Lời kết 
 
Như đã nói, mô hình nuôi kết hợp 3 trong 1 này đã mang đến những thành công nhất định cho nhiều bà con, giúp tăng thu nhập đáng kể. Chúc bà con vụ mùa bội thu!
Nguồn: EcoClean t/h - Trích: TH Nông nghiệp Nông thôn
Đọc tiếp »

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

TLTS - Kỹ thuật nuôi cua đồng trong ao và trong ruộng


1. Chuẩn bị ao, rộng nuôi
* Đối với ao nuôi

- Nguồn nước phải chủ động, không ô nhiễm.
- Có cống cấp và cống thoát nước riêng biệt.
- Đáy ao tốt nhất là đất thịt, có lớp bùn dày 20cm là vừa.
- Ao nuôi có diện tích từ 300-1.000m2, độ sâu 0,8-1,2m.
- Xung quanh bờ phải rào bằng đăng tre, tấm nhựa hoặc lưới cước đặt nghiêng về phía ao không cho cua thoát ra được.
* Đối với ruộng nuôi
Chọn ruộng nuôi địa thế ruộng bằng phẳng, giữ nước tốt, nguồn nước dồi dào, cấp thoát nước thuận lợi, chất nước không bị ô nhiễm, chất đất là loại đất thịt.
- Diện tích mỗi ruộng từ 1/3 ha đến 2/3 ha là vừa, nhỏ quá chất nước không ổn định, lớn quá khó quản lý.
- Đào mương nuôi tạm ở góc ruộng hoặc ở ria ruộng, rộng 4-6 m, sâu 1-1,5 m, diện tích khoảng 3—5% diện tích ruộng.
- Đào mương bao quanh và mương giữa. Mương bao quanh chân bờ về phí trong 1m, sâu 0,8-1,0m, rộng 3-5m. Nếu ruộng rộng, đào thêm ở giữa ruộng hình chữ “+” hoặc “#” rộng 1-1,5m, sâu 0,5-0,8m. Tổng diện tích cả 3 loại mương chiếm khoảng 15-20% diện tích đất ruộng.
- Lấy đất đào mương để đắp bờ ruộng cho cao và to ra. Chú ý nện đất chặt để nước bị rò rỉ. Các cửa cống cấp thoát nước phải chắn bằng săm hoặc lưới thích hợp, nền cống phải đầm chặt.
- Đặt lưới chắn xung quanh ruộng. Nếu lưới bằng nilon mỏng thì phải đóng cọc cao hơn mặt bờ 40-50cm, lấy dây thép buộc nối các đầu cọc với nhau, gấp đôi tấm nilon lên dây thép cho rủ xuống đất thành 2 lớp rồi vùi sâu trong đất bờ từ 15-20cm. Nếu chắn bằng tấm nhựa hoặc fibroximăng… thì chỉ cần vùi xuống đất 15-20 cm, đầu trên cao hơn mặt đất ít nhất là 40cm, bốn góc lượn hình cung.
- Dùng vôi sống hàm lượng 75-105 kg/1000m2 hoà nước té đều khắp mương.
- Trồng các loại cỏ nước phủ kín đáy mương và thả các loại cây nổi như bèo tấm, rau dừa nước, bèo cái…khoảng 1/3 mặt nước.

2. Cải tạo ao, ruộng nuôi
Trước khi nuôi 1-2 tuần, tiến hành tát cạn nước để diệt hết địch hại của cua và tiêu diệt mầm bệnh, bằng cách bón vôi 7-10 kg/100 m2, phơi nắng 3-5 ngày sau đó cấp nước vào ao, đối với ruộng thì cấp nước vào nhưng không cho nước tràn lên ruộng, chỉ khi nào đến thời kỳ lúa sắp làm đòng mới cấp nước lên ruộng cho cua lên ruộng tìm thức ăn.
- Tiến hành gây màu nước cho ao bằng phân chuồng hoặc phân hóa học để tạo nguồn động vật phù du phát triển làm thức ăn cho cua giống mới thả.
- Trong ao, ruộng nuôi nên chất chà làm nơi trú ngụ cho cua lúc cua lột xác tránh bị hao hụt, có thể thả thêm bèo, rau muống, rau dừa nước … để che phủ ao vào những ngày nắng gắt. Độ che phủ khoảng 1/3 diện tích mặt ao.

3. Chọn và thả giống
- Thời vụ thả giống thường từ tháng 2 - 4 hàng năm
- Chọn con giống khỏe mạnh, không bị bệnh tật, đầy đủ càng và chân, màu sắc tươi sáng không bị đóng rong có thể chọn cua đực để nuôi góp phần tăng năng suất và giá trị thương phẩm.
- Mật độ: nuôi ao: 10-15 con/m2, nuôi ruộng: 5-7 con/m2.
- Thả cua ta không nên thả trực tiếp xuống ao mà phải thả từ mé bờ ao cho cua tự bò xuống ao, ruộng tránh hiện tượng cua bị sốc môi trường.

4. Chăm sóc cua
- Thức ăn cho cua rất đa dạng thiên về động vật bao gồm cá tạp, ốc, hến, khoai lang, khoai mì…thức ăn nên bằm nhỏ vừa cỡ miệng cua.
- Khẩu phần ăn từ 5-8 % trọng lượng cua/ngày và được chia làm 2 lần trong ngày, sáng sớm ăn 20 - 40% và chiều ăn 60 - 80 % trọng lượng thân. Thức ăn phải còn tươi không bị ôi thiu, nấm mốc.
- Cần cho cua ăn thức ăn vừa đủ để đảm bảo chất lượng nước vừa giúp cua tiêu hóa tốt thức ăn và hạn chế hao phí thức ăn, hạ giá thành nuôi. Trong ao ruộng nuôi cần bố trí một số sàng ăn để đánh giá tình trạng bắt mồi của cua và đồng thời căn cứ vào điều kiện thời tiết mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

5. Thức ăn cho cua
* Thức ăn
Cua là động vật ăn tạp thiên về thức ăn động vật. Chúng thích ăn thịt các loại nhuyễn thể như trai, ốc, hến, cá tạp. Nếu thiếu thức ăn chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau, nhất là cua mới lột vỏ. Thức ăn nuôi cua thường được khai thác tại chỗ. Trước khi thả giống, nên bón phân lót ở ven mương với lượng 300-450 kg/1000m2 để động vật phù du phát triển làm thức ăn cho cua con. Từ tháng thứ 4 nên thả ốc giống vào ruộng (450-600kg/1000m2 hoặc thả tôm ôm trứng để sinh sản thành tôm con làm thức ăn cho cua cỡ lớn hơn. Ngoài ra có thể dùng các loại thức ăn đã chế biến dạng hạt vừa có dinh dưỡng cao. Nếu có điều kiện thì tận dụng cá tạp và phế thải động vật để giảm giá thành.
* Cho ăn
Căn cứ vào mùa vụ, nhiệt độ nước và giai đoạn sinh trưởng của cua để cho ăn hợp lý.
- Từ tháng 3 đến tháng 5, cua chủ yếu ăn thức ăn tinh. Thức ăn nên làm thành các nắm bột nhão nhỏ. Lượng thức ăn từ 20-30% trọng lượng cua.
- Từ tháng 6 đến tháng 9, cua ăn khoẻ, mau lớn nên cần cho ăn thêm rong cỏ, khoai sắn, bổ sung thức ăn viên hoặc thức ăn tự chế từ cá tạp.
- Từ tháng 10 trở đi, cần tăng thêm thức ăn từ động vật. Lượng thức ăn từ 7-10% trọng lượng cua.
- Mỗi ngày cho cua ăn 2 lần, buổi sáng sớm và chiều tối. sáng cho ăn từ 20-40%, chiều cho ăn chính là 60-80% tổng lượng thức ăn hàng ngày.
- Cần đặt sàng ăn tại 1 số điểm trong mương để kiểm tra lượng thức ăn của cua. Căn cứ vào thời tiết, nhiệt độ, tình hình ăn mồi của cua để điều tiết lượng thức ăn hàng ngày

6. Quản lý cua
- Thường xuyên thay nước cho ao, ruộng nuôi khoảng 1 tuần/lần để kích thích cua lột xác và bắt mồi mạnh, mỗi lần thay nước từ 1/4-1/3 lượng nước trong ao, mương.
- Định kỳ bón vôi cho ao ruộng nuôi 15 ngày/lần với liều lượng 2-3 kg/100m2 hòa vào nước, lấy nước trong tạt đều khắp ao.
- Thường xuyên kiểm tra đăng chắn cống, bờ rào chắn để tránh cua thất thoát ra ngoài.

7. Thu hoạch cua

Thời điểm thu hoạch chủ yếu là vào tháng 10.
- Khi cua đạt kích thước thương phẩm được giá cao có thể tiến hành thu hoạch.
- Thu tỉa bằng cách đặt lờ, lợp… tát cạn, bắt bằng tay nếu thu toàn bộ.
- Cua nhỏ không đủ cỡ thương phẩm được để lại nuôi tiếp cho vụ sau.
Kythuatnuoitrong
Đọc tiếp »

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2018

TLTS - Mô hình nuôi cua biển trên khuôn chứa nước muối

Các hộ diêm dân ở tại huyện Cần Giờ - TP.HCM có thể áp dụng mô hình này để chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy hải sản, tăng thêm thu nhập bởi năng suất đạt trên 1,5 tấn/ha.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế của các hộ diêm dân huyện Cần Giờ trong việc chuyển đổi làm muối vào mùa mưa sang nuôi trồng thủy hải sản, Sở KHCN TP.HCM đã phối hợp cùng Trung tâm Khuyến nông TP.HCM (Sở NN-PTNN TP.HCM) triển khai thành công mô hình nuôi cua biển thương phẩm bằng con giống nhân tạo trên khuôn chứa nước làm muối tại xã Lý Nhơn.

Với phẩm chất thịt ngon, được thị trường ưa chuộng, cua biển có giá trị kinh tế cao trong thực phẩm và cả trong y học. Vì thế, mô hình nuôi cua biển trên khuôn chứa nước muối nếu được triển khai và nhân rộng thành công sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất trên khuôn chứa nước làm muối cho các hộ diêm dân, đồng thời từng bước chuyển giao quy trình kỹ thuật khoa học - công nghệ nuôi cua thương phẩm giống và thức ăn nhân tạo trên khuôn chứa nước ruộng muối, tạo điều kiện thuận lợi để người dân ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Cần Giờ.

Báo cáo thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ “Xây dựng mô hình nuôi cua thương phẩm trên khuôn chứa nước làm muối“ (tại huyện Cần Giờ, TP.HCM), Ths. Nguyễn Thị Gái Nhỏ (Trung tâm Khuyến nông TP.HCM) cho biết mô hình nuôi cua biển trên khuôn chứa nước muối được triển khai từ tháng 8-12/2017 ở xã Lý Nhơn cho 6 hộ diêm dân tại 3 điểm nuôi cua (2 hộ/điểm) có diện tích khuôn nuôi 3.000 - 3.500m2 mỗi hộ với tổng diện tích nuôi 2,1 ha. Trong đó, khuôn nuôi được xây dựng hoàn chỉnh và hộ tham gia mô hình có tính chuyên cần trong sản xuất. Các hộ được cung cấp nguyên vật liệu gồm con giống sinh sản và thức ăn công nghiệp.
Người dân thả giống cua.

Trong mô hình, cua giống được nuôi theo hình thức chuyên canh trong khuôn chứa nước làm muối (có mực nước từ 0,8 - 1m), thời gian nuôi khoảng 90 ngày với mật độ 1 con/m2. Người nuôi mỗi ngày cho cua ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều mát (thích hợp nhất là cho cua ăn lúc nước lớn), mỗi ngày cho ăn từ 1 - 2% trọng lượng cua có trong khuôn. Thức ăn được rải đều quanh khuôn để tất cả cua có thể ăn được đồng thời không cạnh tranh thức ăn và hạn chế ăn lẫn nhau. Suốt quá trình nuôi, người nuôi định kỳ thu mẫu để tính sản lượng cua có trong khuôn nhằm điều chỉnh lượng thức ăn cho vừa đủ, định kỳ 15 ngày bắt cua lên kiểm tra tốc độ sinh trưởng và tình trạng sức khỏe của cua để có giải pháp xử lý kịp thời.

Thực tế nuôi cho thấy môi trường nước khuôn nuôi sạch (thay 20% lượng nước trong khuôn 3 – 4 ngày/lần, thay 50% lượng nước trong ao 2 lần/tháng) có khả năng kích thích cua hoạt động tốt, ăn nhiều, lột xác tốt. Cua giống được vèo 1- 2 ngày có tỷ lệ sống đến 80-90%. Trong tháng đầu, cua phát triển rất tốt, đạt trọng lượng trung bình khoảng 90-100 g/con sau 1 tháng tuổi, đạt 120-140 g/con ở thời điểm 1,5 tháng tuổi. Nhưng từ tháng thứ 2 trở đi do mưa nhiều, triều cường dâng khiến các yếu môi trường thay đổi đột ngột, không ổn định đã gây ảnh hưởng đến sức tăng trọng và tỷ lệ sống của cua. Tại thời điểm 2,5 tháng tuổi, tỷ lệ cua sống giảm còn khoảng 55-60%.

Tại thời điểm thu hoạch (cua trên 3 tháng tuổi), tổng sản lượng cua đạt 3,276 kg, cho năng suất bình quân 1,5 tấn/ha. Trọng lượng trung bình mỗi con nặng 250 - 270g. Với giá bán tham khảo khoảng từ 220.000-350.000đ/kg, trừ các khoản chi phí đầu tư, người nuôi có thể thu về khoản lợi nhuận trên 140 triệu đồng/vụ nuôi (kéo dài chừng 4 tháng) với diện tích khuôn nuôi trung bình khoảng 7.000 m2. 
Cân cua thu hoạch.

Theo Ths. Nguyễn Thị Gái Nhỏ, mô hình nuôi cua thương phẩm trên khuôn chứa nước làm muối tại xã Lý Nhơn hoàn toàn phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng tại Cần Giờ, nguồn nước nuôi không tác động và ảnh hưởng lớn đến môi trường xung quanh vùng nuôi thủy sản nên có thể được nhân rộng, làm nền tảng phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy hải sản.

Mặt khác, bà Gái Nhỏ cũng kiến nghị Sở KHCN TP.HCM phát triển thêm những đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình ương giống cua từ hạt tiêu lên cua giống từ 2 - 3cm tại Cần Giờ để cung cấp kịp thời nguồn con giống cho người dân, giúp cua thích nghi tốt với môi trường, từng bước nâng cao mật độ nuôi và tỉ lệ sống nhằm tăng cường hiệu quả kinh tế của mô hình. 

pcworld.com.vn
Đọc tiếp »

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2018

TLTS - Nuôi ghẹ lột, mô hình mới mang lại thu nhập cao ở Thừa Thiên – Huế

Dù còn khá mới mẻ tại tỉnh Thừa Thiên – Huế nhưng mô hình nuôi ghẹ lột đang mang lại thành công cho người nuôi trồng thủy sản với thu nhập trăm triệu đồng mỗi mùa.


Anh Sáu cho biết xã Phú Diên có điệu kiện tự nhiên rất thích hợp để nuôi ghẹ lột


Anh Trần Sáu (45 tuổi, xã Phú Diên, huyện Phú Vang) trước đây mưu sinh bằng khai thác thủy sản trên phá Tam Giang. Anh cho biết công việc đánh bắt tôm cá rất vất vả lại ảnh hưởng đến các loại thủy sản về lâu dài. Sau khi UBND huyện có chủ trương sắp xếp lại nò sáo trên vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, anh Sáu quyết định chuyển đổi nghề đánh bắt sang nuôi ghẹ lột.

Năm 2011, sau thời gian học hỏi cách nuôi ghẹ lột ở tỉnh Phú Yên, anh Sáu trở về quê bắt tay nuôi thử nghiệm. Ban đầu vì nguồn vốn còn hạn hẹp, anh nuôi 5 lồng nhưng do chưa có kinh nghiệm nên ghẹ bị chết nhiều, thua lỗ nặng. Không nản chí anh tiếp tục tìm hiểu trên các phương tiện về mô hình này.

Nhờ nắm bắt được kỹ thuật nuôi nên các lồng ghẹ bắt đầu cho thu nhập khá, từ nguồn thu đó anh xoay sở vay mượn thêm để đầu tư mở rộng mô hình, đến nay anh Sáu đã có trong tay hơn 20 lồng nuôi. Anh Sáu nhẫm tính vào mùa thu hoạch toàn bộ lồng này có thể xuất hơn 50 kg ghẹ lột thương phẩm/ngày.

Anh Sáu cho biết thêm, để nuôi ghẹ cho năng suất cao thì phải chú ý quan sát những dấu hiệu thay đổi về màu sắc, kích cỡ để nhận biết được từng giai đoạn ghẹ phát triển, khi ghẹ sắp lột phải chuyển sang lồng riêng để xứ lý. Ghẹ vừa lột xong rất yếu nên phải cách ly tuyệt đối với những con giống khác. Dù chỉ một con lọt vào, lập tức đám ghẹ lột sẽ trở thành mồi ngon cho đồng loại. Khi ghẹ lột vỏ xong khoảng 15 phút thì vỏ cứng lại nên phải nhanh chóng đem đi sơ chế, ướp lạnh và đóng gói.

Ngoài ra một yếu tố vô cùng quan trọng nữa đó là nguồn nước, ghẹ là một loại giáp xác rất nhạy cảm với sự thay đổi từ những môi trường sống. Phải là nguồn nước tự nhiên có độ mặn từ 20 - 23 phần nghìn. Đây là nguồn nước lý tưởng cho ghẹ phát triển, mau lớn và nhanh lột. Việc vệ sinh lồng thực hiện định kỳ 2 - 3 ngày/lần; lặn xuống đáy lồng để kiểm tra, vứt bỏ các chất phế thải như thức ăn thừa, vỏ ghẹ. Thường xuyên treo túi vôi đầu lồng nuôi để tạo môi trường sạch cho khu vực nuôi.

Anh Sáu chia sẻ: “Trong những năm gần đây thị trường tiêu thụ ghẹ lột ổn định và mở rộng. Thịt ghẹ chắc, ngọt nên người dùng yêu thích và lựa chọn ngày càng nhiều. Mỗi lần bán đều có thương lái đến tận nơi mua hoặc đóng thùng chuyển vào cho các công ty chế biến thủy sản ở các tỉnh lân cận. Hiện có 2 - 3 công ty về tận đầm đặt mua ghẹ lột. Giá cũng tùy theo loại, loại đắt nhất có giá 230.000 đồng/kg, loại rẻ khoảng 80.000 đồng/kg. Bình quân thu hoach cho lãi gần 100 triệu đồng/mùa”, anh Sáu phấn khởi.


Mô hình nuôi ghẹ lột của anh Nghĩa (Ảnh: Nhung Trang)


Hiện tại ở Phú Diên, ngoài anh Sáu ra còn thêm hai hộ gia đình nuôi ghẹ lột mang lại thu nhập khá cao. Trong đó, chàng trai trẻ Trần Nghĩa (26 tuổi, thôn Thanh Mỹ) đã bản lĩnh khởi nghiệp với mô hình nuôi rất mới mẻ này và khá thành công. Đến mùa thu hoạch các lồng nuôi của anh có thể xuất đến 30 - 40 kg ghẹ lột/ngày; bình quân thu nhập gần 80 triệu đồng mỗi vụ. Không dừng lại đó, Nghĩa còn tiếp tục phát triển mô hình và giúp đỡ nhân rộng cho người dân địa phương.
Minh Tuấn
Theo Báo Nông Nghiệp

Đọc tiếp »

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2018

TLTS - SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT NUÔI CUA BIỂN

  • Nội dung tài liệu
 





Đọc tiếp »

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2018

TLTS - NGHIÊN CỨU CHO SINH SẢN NHÂN TẠO CUA ĐỒNG

  • Nội dung tài liệu
 


Đọc tiếp »

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2018

TLTS - SƠ LƯỢC VỀ KỸ THUẬT NUÔI CUA BIỂN

  • Nội dung tài liệu
 
Đọc tiếp »

Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

KỸ THUẬT SẢN XUẤT CUA BIỂN GIỐNG



Trại sản xuất cua giống nên xây dựng ở gần biển, có nguồn nước biển tốt, ở vùng đầm phá, rừng ngập mặn ven biển có nhiều cua sinh sống, gần vùng nuôi cua, có điều kiện giao thông thuận lợi, có nguồn điện lưới quốc gia, an ninh tốt.l
I. Tuyển chọn và nuôi vỗ cua bố mẹ
Có thể tuyển chọn cua cái đã giao vĩ, lên gạch hoặc cua cái so (cua yếm vuông) nuôi chung với cua đực đã thành thục sinh dục, để cua cái so lột xác, giao vĩ, lên gạch đẻ trứng.
1. Nuôi cua cái đã giao vĩ
- Chọn cua cái đã giao vĩ: trước mùa sinh sản vào khoảng tháng 8, 9 cua cái đã giao vĩ có tuyến sinh dục phát triển thường đánh bắt được ở vùng cửa sông, vùng biển ven bờ. Chọn những con cua cái lên gạch tốt, khỏe mạnh còn nguyên càng, chân bò, chân bơi, tốt nhất là chọn những con cua vừa đánh bắt được, chuyển về ao hoặc các bể xi măng để nuôi vỗ. Những con cua cái như vậy thường có trọng lượng từ 250-800g. Tuỳ theo số lượng cần thiết mà chọn cua, tốt nhất là chọn đủ số lượng cho một đợt cho đẻ để cùng thả nuôi một lần.
- Nuôi trong ao: tùy theo số lượng cua nuôi cho đẻ mà xây dựng ao có diện tích tương ứng. Nhưng để dễ dàng quản lý và chăm sóc nên xây dựng ao có diện tích từ 100 đến 500 m vuông, sâu từ 1,2 đến 1,5m. Ao phải được xây dựng ở nguồn nước tốt, có độ mặn từ 20 đến 30‰ đất sét hoặc pha cát. Nếu gặp nơi đất sình thì phải kiểm tra độ phèn và các độc tố và có biện pháp cải tạo, bờ ao được đắp chắc chắn: chặt, không bị mội, chân bờ rộng tối thiểu 2m, mặt bờ 0,8-1m. Dùng đăng tre cao trên 0,8m (hoặc lưới) làm hàng rào chắc trên bờ và miệng cống, ngăn không cho cua bò ra ngoài. Ở giữa ao nên để một "cù lao" (chiếm 1/10 diện tích ao) có cây bụi để cua có chỗ ẩn, bò lên cạn. Ao nên đặt hai cống: lấy nước và xả nước. Trước khi thả cua nuôi cần dọn tẩy ao, xả nước nhiều lần, tháo hết nước, rải vôi một ở đáy và bờ ao (1kg/10 m vuông) phơi 1-2 ngày, cho nước vào rửa lại ao, kiểm tra độ pH đạt 7,5-8,5 là thích hợp. Mật độ nuôi: 2-5m vuông/ con.
- Nuôi trong lồng: có thể nuôi cua cái đã giao vĩ trong lồng. Lồng làm bằng tre hoặc các vật liệu khác (lưới thép không rỉ, nhựa compozid, v.v...) bảo đảm vững chắc chịu được nước mặn và dòng chảy. Lồng thường có kích thước : dài 3mx rộng 2m x cao 1,2m, có phao nâng để lồng không bị chìm, có miệng lồng rộng 0,5m vuông, có neo chắc chắn để neo giữ. Lồng có thể chia ra những ô nhỏ để nuôi riêng từng con, cũng có thể nuôi chung. Lồng được đặt ở chỗ có nguồn nước lưu thông: ở dọc bờ sông, trong các eo vịnh đầm phá, ở gần cống các đầm nuôi thủy sản v.v.. độ sâu tối thiểu 1,5m, lúc triều xuống vẫn giữ được mực nước trên 0,5m. Mật độ 2-4 con/ m khối.
- Nuôi trong bể xi măng: bể xi măng co kích thước diện tích từ 4 đến 30m vuông, cao 1,3m,có thể hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn có mái che toàn bộ hoặc một phần. Đáy bể rải một lớp cát 3-5cm, sắp một số gạch để làm chổ ẩn cho cua, đáy có van xả để thay nước. Mực nước trong bể từ 0,7 đến 1m, có hệ thống sục khí. Có thể nuôi chung hoặc chia ô để nuôi riêng từng con. Mật độ 2 con/ m khối. Nuôi trong bể xi măng dễ chăm sóc quản lý nhưng phải có điện và cấp nước chủ động và thường số lượng cua không lớn.
- Chăm sóc, quản lý: khi ao, lồng, bể đã chuẩn bị xong thì chọn đủ số lượng cua cần nuôi để thả vào ao, lồng, bể một lúc. Thường cua đánh bắt được buộc dây và có khi có đất, sình bám vào, rửa cua sạch sẽ, cắt bỏ dây và buông nhẹ cua vào ao, lồng, bể, tránh làm gẫy càng, chân cua.
Nếu áp dụng phương pháp cắt mắt để ép đẻ thì có thể tiến hành trước lúc thả cua vào ao nuôi dùng lưỡi dao lam sắc đã sát trùng cắt một đường vào giữa con mắt, dùng tay bóp mạnh hoặc kẹp bóp hết dịch ở mắt ra, sát trùng cho vết cắt.
Thức ăn của cua rất đa dạng, cua thích ăn động vật: cá, tôm, cá loại nhuyễn thể (nghêu, sò, vẹm...) và một số thực vật thủy sinh. Cá lớn cắt thành miếng nhỏ, còng gỡ bẻ đôi, vẹm, nghêu, sò xẻ ra lấy thịt rải đều khắp ao cho cua ăn. Số lượng thức ăn mỗi lần từ 2-5% trọng lượng cua, tùy theo chất lượng thức ăn. Khi kiểm tra thấy cua ăn hết thì có thể cho thêm, nếu thức ăn còn thừa thì giảm. Thường cho cua ăn vào buổi chiều tối, cua sẽ tìm mồi ăn về đêm. Buổi sáng kiểm tra nếu còn thức ăn thừa thí vớt bỏ đi. Không nên để cua đói: cho ăn thiếu hoặc không cho ăn một ngày. Thiếu ăn cua có thể cắn nhau làm gẫy càng, chân, thậm chí ăn thịt đồng loại.
Cần theo dõi kỹ các yếu tố của môi trường nước. Cua chuẩn bị sinh sản cần được nuôi trong nước biển có độ mặn từ 25 đến 32‰ , độ pH từ 7,5 đến 8,5 hàm lượng ôxy hoà tan không dưới 5mg/l, nhiệt độ nước từ 27 độ C đến 30 độ C, không để nước bị nhiễm bẩn hữu cơ và vô cơ. Cần thay nước trong ao nuôi, trong bể: mỗi ngày thay 20 đến 30% nước, một tuần nên tghay nước toàn bộ và vệ sinh bể, đáy ao. Cua nuôi trong bể xi măng nên sục khí nhẹ.
Tùy theo mức độ chín muồi của tuyến sinh dục của cua lúc đưa vào nuôi mà sau thời gian từ 10 ngày (có khi ngắn hơn) đến hai tháng cua để trứng.
2. Nuôi cua cái so (cua yếm vuông) lột xác tiền giao vĩ cho giao vĩ phát dục để sinh sản.
Cua cái so có trọng lượng từ 150 đến 200 gram, trước mùa sinh sản thường di cư ra vùng cửa sông, ven biển ghép đôi với cua đực đã thành thục sinh dục, lột xác, giao vĩ, phát triển buồng trứng và đẻ trứng. Chọn những con cua cái so nguyên vẹn, khỏe mạnh chắc (sắp cốm), đồng thời chọn những con cua đực to (từ 300 đến 700g) nguyên vẹn khỏe mạnh theo tỉ . Ao, lệ 2 cái/ 1 đực đem thả nuôi trong ao, lồng, bể với mật độ như nuôi cua gạch (cua cái đã giao vĩ). Ao, lồng, bể nuôi cua cái so  cũng được xây dựng như để nuôi cua gạch đã trình bày ở mục 1. Cách chăm sóc, cho ăn cũng tương tự như nuôi cua cái đã giao vĩ. Đáng chú ý là nuôi cua cái so sắp cốm, chuẩn bị lột xác tiền giao vĩ ăn rất ít hoặc không ăn, nhưng chúng cần được yên tĩnh để ghép đôi. Trong thời gian từ 5-10 ngày đến một tháng cua cái so (sống cùng cua đực)hoàn thành ghép đôi, lột xác và giao vĩ. Trong bể xin măng có thể quan sát quá trình ghép đôi, lột xác và giao vĩ. Cua đực dùng càng, chân ôm lên lưng cua cái, tha cua cái đi. Sự ghép đôi có thể kéo dài vài ba ngày, chỉ trước lúc cua cái lột xác cua đực mới buông cua cái ra và ở cạnh để bảo vệ, và ngay sau khi cua cái lột xác xong cua đực lật ngửa cua cái ra ôm chặt, cua cái mở yếm ra và xảy ra sự giao vĩ . Quá trình giao vĩ kéo dài 4-5 giờ đến 1-2 ngày. Sau đó cua đực buông cua cái ra nhưng vẫn ở cạnh. Trong mùa sinh sản một cua đực có thể giao vĩ với nhiều cua cái.
Đem cua cái đã giao vĩ ra nuôi riêng, chăm sóc cho ăn để tuyến sinh dục phát triển, chín và đẻ trứng. Từ lúc giao vĩ đến lúc đẻ trứng phải kéo dài 2-3 tháng hoặc hơn nữa. Sau khi lột xác kích thước cua cái tăng lên đột ngột và trong quá trình phát dục trọng lượng của cua cũng tăng lên đáng kể (từ 70 đến 150% so với cua cái so).
II. Đẻ trứng
Trong điều kiện nuôi vỗ tốt cua cái đã giao vĩ chín sinh dục và đẻ trứng trong ao, lồng, bể xi măng. Vì vậy điều kiện của ao, lồng, bể nuôi vỗ cua ở giai đoạn cuối cần được
được kiểm tra chặt chẽ, bảo đảm nước sạch, độ mặn từ 25-32‰, pH  = 7,5-8,5 lượng  oxy hoà tan trên 5mg/lít, nhiệt độ nước 28-30 độ C, độ sâu của nước trong ao 1,2-1,5m trong bể xi măng 0,7-1m. Trong bể xi măng có thể quan sát thấy cua đẻ trứng. Cua mở yếm ra hết độ, ép mình xuống, phần trước đầu ngực hơi dướn lên, càng và chân tì vào đáy, bắt đầu đẻ trứng và thụ tinh. Trứng đẻ ra thụ tinh và hoạt hóa, niêm dịch giữa hai lớp màng linh hoạt, làm cho màng ngoài có sức dính và với tác động của ngoại lực kéo ra làm cho trứng dính vào lông tơ của chân bụng bằng "cuống trứng", nhờ vậy mà các hạt trứng vẫn rời nhau tự do. Quá trình đẻ trứng diễn ra ở đáy ao, đáy bể và kéo dài từ 30 phút đến 2 giờ, cua đẻ trứng tốt, trứng dính đều, dày trên tất cả các lông tơ của các chân bụng và có rất ít trứng rơi ra ở dưới đáy, không dính được vào lông chân bụng. Ngược lại, trường hợp đẻ trứng không tốt, trứng chỉ bám một ít vào một số lông tơ của chân bụng, còn phần lớn trứng đẻ ra rơi trên đáy. Ở những cua cái đẻ trứng tốt buồng trứng dày có dạng hình "tán nấm" tròn làm cho yếm cua mở ra rất rộng, những cua cái đẻ trứng kém, trứng bám ít, có dạng hình "trăng khuyết", yếm mở hẹp.
III. Nuôi cua ôm trứng
Do cua có đặc tính ôm trứng (thực chất là ôm phôi phát triển) một thời gian khá dài (từ 10-20 ngày tùy thuộc điều kiện môi trường, trong đó chủ yếu là nhiệt độ nước) nên trong mùa sinh sản, trong khai thác người ta đánh bắt được cả  cua ôm trứng. Có thể thu những cua ôm trứng trong tự nhiên, bảo quản tốt đưa về ấp nở để nhận ấu trùng, sản xuất cua giống.
Cua ôm trứng nuôi riêng từng con, có thể nuôi trong giai đoạn giai thả dưới ao, ngăm bể thành những ô nhỏ để tiết kiệm diện tích, tốt nhất là nuôi riêng mỗi con trong một bể xi măng có thể tích từ 0,5 đến 1m3. Môi trường nước cần được quản lý chặt chẽ: độ mặn 30‰ ± 2‰ , oxy hòa tan trên 5mg/lít (sục khí nhẹ thường xuyên), pH = 7,5-8,5, nhiệt độ 29 ± 1 độ C, giữ yên lặng nơi nuôi cua. Cho cua ăn đầy đủ, thức ăn có chất lượng cao: thịt nghêu, mực, tôm. Mỗi ngày cho ăn một lần vào buổi chiều tối, thu bỏ thức ăn thừa vào buổi sáng. Thay nước 20-30% hàng ngày.
Theo dõi quá trình phát triển của phôi. Để xác định chất lượng của trứng phôi cần quan sát dưới kinh hiển vi: 2-3 ngày 1 lần, xác định "tốc độ" phát triển của phôi, tỉ lệ trứng bị hỏng, nhiễm bệnh: nấm, vật ký sinh và có biện pháp xử lý. Cũng có thể đánh giá tốc độ phát triển của phôi qua sự biến đổi màu sắn của buồng trứng vàng sáng, vàng sẫm, xám tro và cuối cùng là xám đen. Màu sắc của buồng trứng chuyển đồng đều chứng tỏ buồng trứng tốt, phát triển đồng đều. Buồng trứng chuyển đều sang màu xám đen tức là phôi đã phát triển đến giai đoạn "mọc mắt" và trong một hai ngày sau là nở ra ấu trùng.
Trong điều kiện nhiệt độ nước từ 28 đến 30 độ C, sau khi đẻ trứng từ 10-12 ngày nở ra ấu trùng Zoea 1.
Đối với cua ôm trứng thu ngoài tự nhiên cần vận chuyển tốt: chứa vào xô nước biển (lấy nước nơi bắt cua), cho ít nước và thay nước nhiều lần, sục khí, khống chế nhiệt, tránh nhiệt độ nước lên trên 30 độ C trong lúc vận chuyển. Trước khi cho cua ôm trứng vào bể ương ấp nên xử lý cua ôm trứng: cho cua vào xô nước biển có pha formaline 20ppm trong thời gian 20-30 phút. Xem màu sắc của trứng và lấy một ít trứng quan sát dưới kính hiển vi để xác định giai đoạn phát triển và chất lượng của trứng phôi, dự kiến ngày nở của ấu trùng để chuẩn bị các điều kiện ương nuôi  tiếp theo một cách chủ động. Điều kiện và cách nuôi cua ôm trứng thu được ngoài tự nhiên cũng giống như nuôi cua ôm trứng cho đẻ nhân tạo.
IV. Ương nuôi ấu trùng thành cua bột 1
Công việc ương nuôi ấu trùng Zoea 1 thành cua bột 1 là công đoạn quan trọng và đòi hỏi nhiều yếu tố kỹ thuật sinh học chặt chẽ. Có thể ương nuôi ấu trùng thành cua bột trong ao đất, trong bể xi măng. Ở đây chủ yếu trình bày qui trình ương nuôi trong bể xi măng và trên cơ sở đó có thể tiến hành các biện pháp kỹ thuật tương tự để ương nuôi trong ao ở những nơi có điều kiện.
Hiện nay ở nước ta chưa có cơ sở nào xây dựng một trại sản xuất giống nhân tạo loài cua biển (Scylla serrata). Trên cơ sở nghiên cứu thử nghiệm đạt kết quả, chúng tôi nhận thấy có thể sử dụng hệ thống thiết bị trại sản xuất gíông các loài tôm biển để sản xuất cua giống. Có một vài cải tiến cần thiết, chúng tôi sẽ trình bày trong phần phụ lục.
1. Thu nhận ấu trùng Zoea 1 từ cua mẹ "ôm trứng"
Bể xi măng có thể tích 1-2m khối được làm vệ sinh sạch, khử trùng chlorine, dẫn nước biển có độ mặn 30‰ đã được xử lý : lắng lọc, khử trùng bằng chlorine hoặc tia cực tím, cho EDTA 10ppm, pH = 7,5-8,5, nhiệt độ 29-30 độ C, sục khí nhẹ, đều. Chuyển cua mẹ ôm trứng sắp nở (thường từ ngày 9-11 kể từ lúc cua đẻ trứng) vào bể xi măng trên.
Trước đó xử lý  cua ôm trứng bằng dung dịch formaline 20ppm trong 15 đến 20 phút. Cua ôm trứng ở trong bể cần được yên tĩnh, không cho ăn. Trong thời gian 1-2 ngày thì ấu trùng nở. Quá trình này thường kéo dài từ 2-4 giờ, cũng có trường hợp kéo dài từ 8-10 giờ. Quan sát thấy mật độ ấu trùng đã "dày", bắt cua mẹ lên kiểm tra, nếu cua đã thải hết ấu trùng, yếm đã đóng lại thì đưa cua vào bể nuôi cua bố mẹ để nuôi vỗ tiếp.
Ấu trùng Zoea vừa mới nở có màu đen (do đôi mắt kép to có nhiều sắc tố đen làm cho ta thấy ấu trùng có màu đen) bơi lội trong tầng nước giữa và trên mặt. Ấu trùng có đặc tính hướng quang mạnh. Dùng tấm che có màu tối che phần lớn miệng bể xi măng lại, dùng bóng đèn 100W chiếu ở phần miệng bể còn lại. Ấu trùng sẽ tập trung về phần bể có chiếu sáng. Dùng ống siphon thu ấu trùng vào thùng nhựa đã được khử trùng. Thường ấu trùng yếu nằm ở đáy, không bơi được đến vùng chiếu sáng. Những ấu trùng yếu loại bỏ đi. Cần đếm số ấu trùng thu được trước lúc đưa vào bể ương. Lấy tấm vải đen bọc kín thùng nhựa chứa ấu trùng trong vòng 10 phút, dùng tay đảo nước trong thùng nhựa ba vòng theo một chiếu và một vòng theo chiều ngược lại, dùng ống đong 100ml lấy đầy nước có ấu trùng vào ống đong, đem đếm số ấu trùng trong ống đong. Làm như vậy ba lần và lấy số trung bình của ba lần đếm. Biết được thể tích nước chứa ấu trùng trong thùng nhựa suy ra số ấu trùng thu được. Thường cua mẹ có trọng lượng 300g-350g, đẻ và ấp trứng tốt có thể thu được 60-80 vạn ấu trùng, trọng lượng 500g-700g, có thể thu được  100-160 vạn ấu trùng.
2. Ương nuôi ấu trùng Zoea : từ Zoea 1 đến Zoea 5
2.1. Chuẩn bị bể, nguồn nước, thức ăn cho ấu trùng
Dự tính được ngày ấu trùng nở, công việc chuẩn bị bể ương, nguồn nước thức ăn, thuốc phòng bệnh cần được thực hiện chu đáo (hệ thống bể ương ấu trùng được cây dựng trong nhà có mái che, có tường bao, cách ly tốt với xung quanh, chỉ để một cửa vào và một cửa ra có đèn cực tím sát trùng. Số lượng và sức chứa của hệ thống bể ương phụ thuộc vào qui mô sản xuất của trại giống. Nên xây các bể có diện tíchkhác nhau: 2m khối, 4 m khối, 8m khối, 16 m khối v.v...)
Bể ương được làm vệ sinh: rửa, ngâm chlorine, rửa sạch
Nước biển có độ mặn 30‰ ±1‰ lọc (nếu ở nơi cấp nước, nguồn nước đục phải cho vào bể lắng "hoặc ao lắng" để lắng trước lúc bơm vào lọc, xử lý): sỏi , cát, than hoạt tính, xử lý chlorine 20ppm: sục khí 48 giờ cho bay hết mùi clo, nếu chưa hết phải sục khí tiếp, cho 10ppm EDTA.
Dẫn nước vào bể ương ấu trùng: mực nước ao 0,6-0,8m, tính thể tích nước trong bể để đưa đủ số lượng ấu trùng vào theo mật độ ương hợp lý. Sục khí đều 1m khối đước đặt 1 vòi sục khí.
Thức ăn của ấu trùng Zoea của cua là tảo khuê, luân trùng (loài luân trùng nước lợ:Branchionus plicatilis), ấu trùng naupli của Artemia. Có thể dùng thức ăn chế biến công nghiệp dùng cho ấu trùng tôm biển để cho ấu trùng cua ăn: bột tảo Spirulina, thức ăn tổng hợp dạng vi nang của hãng MAXIMA (Mỹ).
Tảo khuê và luân trùng cần ương nuôi trước để khi ấu trùng cua nở có đủ số lượng cung cấp cho cả thời gian ương kéo dài trong 12 ngày đầu.
2.2 Ương nuôi ấu trùng Zoea 1 đến Zoea 5
- Mật độ ương: Ương nuôi ấu trùng cua từ Zoea 1 đến Zoea 5 trongbể xi măng có sục khí có thể ương mật độ từ 80-120 con/lít. Trong quá trình ương ấu trùng có thể bị hao hụt từ 20 đến 50%. Theo dõi mật độ ấu trùng trong bể ương từng giai đoạn  và có thể giảm bớt lượng nước hoặc chuyển ấu trùng snag bể có kích thước nhỏ hơn để bảo đảm mật độ thích hợp, giảm được lượng thức ăn cho vào bể.
- Cho ăn: Tảo khuê Chaetoceros và Skeletonema costatum ương trong bể tảo để ngoài trời thường đạt đỉnh cao vào ngày thứ 3 (phụ thuộc thời tiết). Thu tảo lúc tảo sắp đạt đỉnh cao bằng lưới phytoplankton cỡ 100, đem xử lý bằng formol 20ppm trong 10 phút rồi đem rãi đều vào bễ ương. Mật độ tảo đạt 6. 104/ml (thường dùng 10 lít tảo cho 1 m khối nước ương). Sục khí nhẹ, đều. Chuyển ấu trùng vừa đếm được vào bể. Sau khoảng 6-8 giờ cho luân trùng vào bể ương. Luân trùng thu được từ bể ương cho vào chậu nước sạch, độ mặn 20-25‰ lọc sạch, xử lý dung dịch frmol 20ppm trong 10 phút, cho vào bể ương ấtu trùng, rãi đều khắp bể mật độ luân trùng 15 con/ml. Mỗi ngày cho ăn 2 lần: sáng 8 giờ, chiều 14 giờ.
Cho ấu trùng ăn tảo khuê trong thời gian 6 ngày đầu.
Cho ấu trùng ăn luân trùng trong thời gian 12 ngày đầu.
Từ ngày 12 trở đi giảm lượng luân trùng xuống 1/2 và cho naupli của Artemia và bể ương, mật độ 10-15 con/ml. Đến ngày 14 ngừng cho thức ăn luân trùng, tăng mật độ naupli của Artemia lên 20con/ml.
- Vệ sinh bể thay nước hằng ngày làm vệ sinh bể: dùng mút mềm cọ rữa thành, đáy bể, xi phông cặn bã ở đáy. Khi làm vệ sinh có thể dùng đèn chiếu sáng một đầu bể cho ấu trùng tập trung lại và cọ rữa phía tối không có ấu trùng. Khi xi phông  ấu trùng có thể ra theo nên dùng bình lọc để thu lại. Hai ngày đầu không thay nước, ngày thứ 3 thay 30% lượng nước, ngày thứ 5 thay 30%, ngày thứ 7 thay 30%  . Và tiếp tục thay cách ngày như vậy cho đến ngày thứ 17. Tùy theo độ nhiễm bẩn của nước, tình trạng phát triển và nhiễm bẩn của ấu trùng mà thay nước 100% hay không. Nếu ấu trùng phát triển tốt, lột xác đều, sinh trưởng tương đối đồng đều, không bị nhiễm bệnh, bơi lội khỏe thì hạn chế thay nước nhiều. Nếu ấu trùng bị bệnh thì sử dụng các loại thuốc kháng sinh và đặc biệt kiểm tra nguồn nước và thức ăn kỹ trước lúc cho vào bể ấu trùng.
Theo dõi các yếu tố của môi trường nước, bảo đảm độ mặn 30‰ ±1‰ nhiệt độ nước 29độ C ±1 độ C, pH = 7,5-8,5, oxy hòa tan trên 5mg/lít trong suốt quá trình ương nuôi.
Từ Zoea 1 đến Zoea 5 ấu trùng lột xác 4 lần. Zoea 5  đã phát triển đầy đủ 5 đôi chân ngực trong đó có đôi chân càng phát triển nhưng tất cả còn nằm trong giáp đầu ngực . Tập tính bơi lội của Zoea 5 vẫn giống các giai đoạn trước. Zoea 5 lột xác cho ấu trùng Megalops. Megalops có giáp đầu ngực dạng chữ nhật, có 5 đôi chân ngực, trong đó có đôi chân càng phát triển hoạt động bắt mồi và tự vệ. Đuôi thu ngắn nhưng rất linh hoạt là động lực chính để bơi lội. Megalops vừa bơi lội, vừa bám vào thành, giá thể, vừa bò cả lên thành, trên đáy.
Trong điều kiện nhiệt độ nước 29-30 độ C từ lúc nở đến lúc xuất hiện ấu trùng Megalops  đầu tiên từ 16-18 ngày.
Nếu ấu trùng Zoea nở ra chất lượng tốt, ương nuôi tốt từ Zoea 1 đến Zoea 5  có thể đạt tỉ lệ sống 45-60%, thường chỉ đạt 35-40%, thậm chí còn thấp hơn.
2.3 Ương nuôi Zoea 5  lên cua bột 1
Khi phát hiện thấy Megalops   đầu tiên xuất hiện thì chuyển toàn bộ ấu trùng ra bể ương lớn hơn  hoặc đưa ra ương ở ao đất, để làm giảm mật độ, tránh ấu trùng Megalops nở trước ăn ấu trùng Zoea chưa chuyển sang Megaplos. Trong bể lớn rải một lớp mỏng cát sạch ở phần sát thành bể (đã chừa lại khoảng đáy giữa bể không có cát), thả nhiều tấm lưới mùng có phao cho phân cắt bể ra thành nhiều phần, thả một số chùm sợi nylon nhỏ làm giá thể, tạo nơi bám cho ấu trùng Megalops. Mật độ ương từ 15.000 đến 20.000 ấu trùng/m khối. Nước được xử lý như giai đoạn đầu, có thể giảm dần độ mặn xuống 28 rồi 20 ‰ trong thời ương Megalops. Thức ăn gồm ấu trùng 2 ngày tuổi Artemia sinh khối, thức ăn chế biến: thịt nghêu, tôm xay nhỏ trộn với lồng đỏ trứng gà, vitamin, hấp chín, rây nhỏ cho ăn. Lượng thức ăn: Artemia và ấu trùng 50 con/lít/ngày, thức ăn chế biến 5g/m khối/ngày, mỗi ngày cho ăn 2 lần: sáng và chiều. Tăng dần lượng thức ăn chế biến, giảm dần ấu trùng Artemia. Sục khí, làm vệ sinh bể hàng ngày, rửa bể, xiphông thức ăn thừa, thay 30% nước hàng ngày.
Sau 8-12 ngày phần lớn megalops lột xác biến thành cua bột 1.
Tỷ lệ sống từ Zoea 5 đến cua bột 1 thường đạt 50% có khi còn thấp hơn 40-30%, tùy thuộc chủ yếu vào việc cách ly (giảm mật độ) Megalops trong giai đoạn dầu.
V. Ương nuôi cua bột thành cua giống
1. Chuẩn bị ao
Giai đoạn này chỉ nên ương nuôi cua trong ao đất. Cua bột có hình thái giống cua trưởng thành. Cua thích sống ở đáy, (chất đáy cát pha bùn), hoặc bám vào các thực vật thủy sinh, cua bột có thể sống được ở nước độ mặn 15‰  và thấp hơn, ăn các động vật nhỏ và thức ăn chế biến, rong, tảo. Ao ương cua bột lên cua giống có thể xây bên cạnh ao nuôi cua thịt. Ao ương  có diện tích 200 đến 500m vuông, sâu 0,8-1,2m. Bờ ao đắp chắc chắn ở giữa để cù lao đất 20% trên diện tích ao, cao hơn mực nước triều cao nhất 0,3-0,5m. Xây 2 cống lấy và thoát nước, có lưới chắn. Trên bờ ao, ở mép trong chắn lưới mùng cao trên 0,7m, chếch về phía trong ao 1 góc 65 độ C. Vệ sinh ao: bón vôi, diệt tạp, bón phân, cho nước vào qua lưới lọc, độ sâu 0,6-0,8m. Ao được chuẩn bị một tuần trước khi cho cua bột xuống.
- Mật độ ương nuôi: 200-300 con/m vuông. Cua bột từ trại giống được vận chuyển đến chó thể bằng túi nhựa nylon có oxy hoặc bằng khay ẩm, tùy khoảng cách giữa trại giống đến ao ương. Độ mặn của ao ương không được sai lệch với trại giống qua 5‰ . Cua bột đem rải đều quanh ao theo số lượng đã tính trước.
2. Cho ăn và chăm sóc
Trong ao ương cua giống có thể gây màu nước cho phù du động vật phát triển làm thức ăn tự nhiên cho cua, nhưng chủ yếu phải cho cua ăn thức ăn chế biến từ các loại bột, cám, thịt cá, tôm, còng, nhuyễn thể xay nhỏ nấu chín. Thức ăn đem rải ven ao. Mỗi ngày cho ăn từ 6-10% trọng lượng cua, chia làm 2 lần: sáng sớm và chiều tối. Số lượng thức ăn tăng dần theo sinh trưởng , tăng trọng của cua. Có thể dùng giai đoạn cho ăn để kiểm tra sức ăn của cua để tăng giảm lượng thức ăn.
Thay nước hằng ngày 20-30% nước, kiểm tra pH, oxy, nhiệt độ, độ mặn, bờ ao, chống mội, xói lở, hỏng rào, bệnh và các dịch hại vào trong ao, ngăn ngừa bắt cắp.
Khoảng 10 ngày cân, đo đánh giá sinh trưởng của cua một lần. Từ 30 đến 35 ngày cua đạt chiều rộng mai 2,5-3,0cm. Trọng lượng 5g. Tỷ lệ sống đạt 40-60%. Cỡ cua này có thể chuyển sang ao lớn để nuôi cua thịt.
Nếu cần cua giống cỡ lớn hơn thì phải san cua ra ao lớn hơn và nuôi mật độ thấp hơn.
Kỹ thuật nuôi cua biển - TS.Hoàng Đức Đạt - NXBNN

Sản xuất cua giống
Thời gian qua, Trung tâm Giống - kỹ thuật thủy sản Phú Yên đã sản xuất thành công cua giống để cung ứng cho người dân thả nuôi trong ao hồ ở các vùng ven biển ở Phú Yên. Chuyên mục Khuyến ngư kỳ này xin giới thiệu kỹ thuật chọn giống bố mẹ và ương nuôi cua bột thành cua giống.
TUYỂN CHỌN VÀ NUÔI VỖ CUA BỐ MẸ 
Có thể tuyển chọn cua cái đã giao vĩ, lên gạch hoặc cua cái so (cua yếm vuông) nuôi chung với cua đực đã thành thục sinh dục, để cua cái so lột xác, giao vĩ, lên gạch đẻ trứng.
- Nuôi cua cái đã giao vĩ:
Trước mùa sinh sản vào khoảng tháng 8, tháng 9, cua cái đã giao vĩ có tuyến sinh dục phát triển thường đánh bắt được ở vùng cửa sông, vùng biển ven bờ. Chọn những con cua cái lên gạch tốt, khỏe mạnh, còn nguyên càng, chân bò, chân bơi, tốt nhất là chọn những con cua vừa đánh bắt được, chuyển về ao hoặc các bể xi măng để nuôi vỗ. Những con cua cái như vậy thường có trọng lượng từ 250-800g.
- Nuôi trong bể xi măng:
Bể xi măng có diện tích từ 4 đến 30m2, cao 1,3m, có thể hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn có mái che toàn bộ hoặc một phần. Đáy bể rải một lớp cát dày 3-5cm, sắp một số gạch để làm chỗ ẩn cho cua, đáy có van xả để thay nước. Mực nước trong bể từ 0,7 đến 1m, có hệ thống sục khí. Có thể nuôi chung hoặc chia ô để nuôi riêng từng con. Mật độ 2 con/m3. Nuôi trong bể xi măng dễ chăm sóc quản lý nhưng phải có điện và cấp nước chủ động, thường số lượng cua không lớn.
- Chăm sóc, quản lý:
Nếu áp dụng phương pháp cắt mắt để ép đẻ thì có thể tiến hành trước lúc thả cua vào bể nuôi. Dùng lưỡi dao lam sắc đã sát trùng cắt một đường vào giữa con mắt, dùng tay bóp mạnh hoặc kẹp bóp hết dịch ở mắt ra, sau đó sát trùng vết cắt. Cần theo dõi kỹ các yếu tố của môi trường nước. Cua chuẩn bị sinh sản cần được nuôi trong nước biển có độ mặn từ 25 đến 32‰, độ pH từ 7,5 đến 8,5, hàm lượng ôxy hoà tan không dưới 5mg/l, nhiệt độ nước từ 27 đến 30 độ C, không để nước bị nhiễm bẩn hữu cơ và vô cơ. Cần thay nước trong ao nuôi, trong bể: Mỗi ngày thay 20 đến 30% nước, một tuần nên thay nước toàn bộ và vệ sinh bể, đáy ao. Cua nuôi trong bể xi măng nên sục khí nhẹ.
Thức ăn của cua rất đa dạng. Cua thích ăn động vật: Cá, tôm, các loại nhuyễn thể (nghêu, sò, vẹm...) và một số thực vật thủy sinh. Số lượng thức ăn mỗi lần từ 2-5% trọng lượng cua, tùy theo chất lượng thức ăn. Thường cho cua ăn vào buổi chiều tối, cua sẽ tìm mồi ăn về đêm. Buổi sáng kiểm tra nếu còn thức ăn thừa thì vớt bỏ đi. Không nên để cua đói, vì khi đói chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau.
ƯƠNG NUÔI CUA BỘT THÀNH CUA GIỐNG  
Chuẩn bị ao:
Giai đoạn này chỉ nên ương nuôi cua trong ao đất. Ao ương cua bột lên cua giống có thể xây bên cạnh ao nuôi cua thịt. Ao ương  có diện tích từ 200 đến 500m2, sâu 0,8-1,2m. Bờ ao đắp chắc chắn, ở giữa để cù lao đất 20% trên diện tích ao, cao hơn mực nước triều cao nhất 0,3-0,5m. Xây 2 cống lấy và thoát nước, có lưới chắn. Trên bờ ao, ở mép trong chắn lưới mùng cao trên 0,7m, chếch về phía trong ao một góc 65 độ.
Vệ sinh ao: Bón vôi, diệt tạp, bón phân, cho nước vào qua lưới lọc, độ sâu 0,6-0,8m. Ao được chuẩn bị một tuần trước khi cho cua bột xuống.
Mật độ ương nuôi: 200-300 con/m2.
ho ăn và chăm sóc: Trong ao ương cua giống có thể gây màu nước cho phù du động vật phát triển làm thức ăn tự nhiên cho cua, nhưng chủ yếu phải cho cua ăn thức ăn chế biến từ các loại bột, cám, thịt cá, tôm, còng, nhuyễn thể xay nhỏ nấu chín. Thức ăn đem rải ven ao. Mỗi ngày cho ăn từ 6-10% trọng lượng cua, chia làm 2 lần: Sáng sớm và chiều tối. Số lượng thức ăn tăng dần theo sự sinh trưởng, tăng trọng của cua. Khoảng 10 ngày, cân đo đánh giá sinh trưởng của cua một lần. Từ 30 đến 35 ngày cua đạt chiều rộng mai 2,5-3,0cm, trọng lượng 5g. Tỉ lệ sống đạt 40-60%. Cỡ cua này có thể chuyển sang ao lớn để nuôi cua thịt. Nếu cần cua giống cỡ lớn hơn thì phải san cua ra ao lớn hơn và nuôi với mật độ thấp hơn. 
KS NGUYỄN THỊNH, Phú yên, 31-08-2007
♡Những trang mua bán uy tín cũng như dịch vụ tốt muốn chia sẻ với cả nhà. ấn link dưới mỗi chương trình coi chi tiết.mọi người ủng hộ ad nhé♡ 

1. khuyến mại của Tiki vui tết trung thu

2. Giảm giá quần áo của adayroi
https://goo.gl/31F4Rf

3. ngân hàng di động cho người năng động
https://goo.gl/u9rBMG

4. Đồ Cho phượt thủ thích vi vu 



5. Đặt nhà hàng ăn uống cả nước

Đọc tiếp »